- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Quảng Đại Siêu G phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 142 Bộ luật H nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 15-7-2025. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Thùy Trang – Giáo viên Trường Tiểu học Mỹ Sơn C.
2/ Bà Vũ Thị Thùy Chinh – Giáo viên Trường Tiểu học Nha Hố.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa mở phiên tòa x t xử k n vụ án h nh sự sơ th m thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quảng Đại S, sinh năm 2004 tại tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa).
Nơi cư trú: Thôn C, xã P, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tr nh độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Chăm; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Bà La M; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quảng Đại D, sinh năm 1986 và bà Đổng Thị Mỹ Đ, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh K.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo Lệnh tr ch xuất số 02/2025/TA-LTX ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa.
- Bị hại: Cháu Tain Thị K, sinh ngày 20/4/2011 – Đề nghị x t xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Khánh Hòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Tain Thị L, sinh năm 1988 – Đề nghị x t xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Khánh Hòa.
- Người b o vệ qu n và lợi ch hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị Thanh T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K – Có mặt.
- Người có qu n lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Cao Đ1, sinh năm 1984 – Đề nghị x t xử vắng mặt.
2. Bà Đổng Thị Mỹ Đ, sinh năm 1984 – Đề nghị x t xử vắng mặt.
3. Ông Quảng Đại D, sinh năm 1986 – Đề nghị x t xử vắng mặt.
4. Anh Châu Văn K1, sinh năm 2002 – Vắng mặt không lý do.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Khánh Hòa.
- Người làm chứng: Anh Lưu Văn T1, sinh năm 2003 – Vắng mặt không lý do.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Quảng Đại S và Châu Văn K1 (sinh năm 2002, trú: Thôn C, xã P, tỉnh Khánh Hòa) là bạn bè ở cùng làng với nhau, cùng làm thuê tại trại heo của ông Nguyễn Khánh H (ở thôn L, xã N, tỉnh Khánh Hòa). Ngày 22/8/2024, K1 sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo Y16 màu xanh đen có tài khoản Facebook tên “Khang M1” kết bạn với tài khoản Facebook có tên “Wron Jook” của cháu Tain Thị K (sinh ngày 20/4/2011, trú: Thôn M, xã M, tỉnh Khánh Hòa). Sau nhiều lần nói chuyện thân thiết, K đồng ý đi chơi với K1 nhưng do K1 bận công việc không có thời gian đi ra ngoài nên K1 kể lại cho G biết sự việc.
Chiều ngày 26/8/2024, G điều khiển xe mô tô biển số 85NP-068.30 (xe thuộc sở h u của bà Đổng Thị Mỹ Đ, sinh năm 1984, trú: Thôn C, xã P, tỉnh Khánh Hòa – m ruột của G) rời khỏi trại heo ra ngoài cắt tóc, đi chơi, rồi sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh nhắn tin nói chuyện với K1, K1 nói G đến tối chở K đi chơi th G đồng ý. Tiếp theo, K1 dùng điện thoại nhắn tin rủ K, h n gặp nhau tại sân bóng thôn M. Sau mỗi lần liên lạc với K, K1 đều thông báo lại cho G biết nội dung để G nắm bắt. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, G điều khiển xe mô tô đến sân bóng thôn M chở K đi chơi và lúc này G vẫn đóng giả là K1.
Khi gặp K tại sân bóng, ban đầu K không chịu lên xe, G nhắn tin cho K1 báo t nh h nh, sau đó khi K1 nhắn tin nói chuyện lại với K thì K đồng ý lên xe Khởi. Sau khi chở được K, G chở thẳng đến đường bê tông bờ tràn suối C thuộc thôn T, xã M, cách sân bóng thôn M khoảng 05km. Tại đây, G thấy địa điểm vắng người, trời tối nên dừng xe lại cho K đứng xuống đường, rồi G tiến đến ôm hôn, sờ mó các bộ phận nhạy cảm của K và nói Khuyên cho quan hệ t nh dục, K không đồng ý và khóc lóc xin G chở về th G hù doạ Khuyên ở đây t người qua lại, có la cũng không có ai đến cứu, đồng thời G dùng hai tay đè K nằm xuống đường, k o quần K ra thực hiện hành vi quan hệ t nh dục và cho xuất tinh ra ngoài âm đạo của K. Sau khi thực hiện xong hành vi, G chở K về lại sân bóng M để K tự đi về nhà.
Sang ngày hôm sau, K kể lại sự việc bị xâm hại t nh dục cho gia đ nh biết và gia đ nh K trình báo Công an xã M giải quyết. Đến ngày 29/8/2024, G đến Công an huyện N (cũ) đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của m nh.
Trong vụ án này, K1 là người giới thiệu cháu K cho G, rủ rê bị cáo, giúp sức cho bị cáo để chở được Khuyên đi, chỉ dẫn cách tiếp chuyện, cách chọn địa điểm, cách đối phó trong trường hợp Khuyên không đồng ý đi hoặc đòi về. Ngay từ ban đầu, mục đ ch của cả K1 và G là đưa K đi chơi để thực hiện hành vi quan hệ t nh dục (có thể chỉ là Gen hoặc cả G và K1) chứ không đơn thuần là chở đi dạo, v nếu K không chịu lên xe th K1 còn chỉ cho G là “ẵm nó lên xe”, “nó khóc thì mình chơi luôn”.
Qua việc Tòa án trả hồ sơ, Viện kiểm sát cho rằng K1 chỉ có hành vi, mục đ ch giúp sức cho G và K “tự nguyện quan hệ” là chưa đúng ý ch của K v ngay từ đầu, K không chịu lên xe của G, thậm ch K có nói rằng m nh còn đi với bạn, sau đó G và K1 t m cách để K chịu lên xe Gen. Tại phiên tòa ngày 29/5/2025, G cũng thừa nhận K1 nhắn cho bị cáo “Chơi đi, con này dễ lắm” hay “Chở qua thì chơi chung luôn” nghĩa là thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Trong nội dung nh ng phần ghi âm G và K1 nói chuyện với nhau liên quan đến hành vi, quá trình lấy lời khai đều ghi rõ nội dung nhưng vẫn chưa được trích xuất làm rõ.
* Tại Bản kết luận giám định xâm hại t nh dục ở trẻ em số 24 ngày 30/8/2024 của Trung tâm G1, Sở Y tế tỉnh N (nay là tỉnh Khánh Hòa), kết luận đối với Tain Thị K như sau:
+ Ngực: Trên vú trái có vết bầm tím kích thước (1x0.5)cm. Dưới vú trái có vết bầm tím kích thước (1x0.8)cm.
+ Bộ phận sinh dục: Phát triển bình thường.
+ Màng trinh: Hình vành khăn, có vết rách cũ vị trí hướng 05 giờ, sát góc màng trinh.
+ Tầng sinh môn: Cạnh tầng sinh môn có vết xây xát đang rỉ máu, kích thước (1.2x0.7)cm.
+ Xét nghiệm dịch âm đạo: Soi, nhuộm không phát hiện hình dạng tinh trùng trong mẫu. Kết quả quả siêu âm: Hiện tại chưa phát hiện bất thường trên siêu âm. Quá tr nh điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ th m, không ai có ý kiến g đối với Kết luận giám định.
Về thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng:
- Tạm gi , sau đó trả lại các tài sản không liên quan đến tội phạm cho các chủ sở h u gồm: Quảng Đại S: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh; Châu Văn K1: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y16 màu xanh đen và 01 xe mô tô biển số 85D1-452.30. Các chủ sở h u đã nhận lại tài sản và không có ý kiến g .
- 01 xe mô tô biển số 85NP-068.30 mà G mượn làm phương tiện phạm tội nhưng chị Đ không biết. Chị Đ đã nhận lại xe và không có ý kiến g . Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tain Thị K và m ruột – chị Tain Thị L yêu cầu G bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, sau đó thỏa thuận với gia đ nh bị cáo còn 40.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động cha m là ông Quảng Đại D và bà Đổng Thị Mỹ Đ bồi thường thay cho bị cáo và hai người không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-NS ngày 19-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa) truy tố bị cáo Quảng Đại S về tội “Hiếp dâm người dưới 1 tu i”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật H nh sự.
Tại phiên tòa sơ th m, Kiểm sát viên sau khi phân t ch hành vi, nhân thân, mức độ phạm tội của bị cáo, gi nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng x t xử sơ th m:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 142, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 (bị cáo đầu thú, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đ nh bồi thường và được bị hại, gia đ nh bị hại xin giảm nh h nh phạt), Điều 54, Điều 38 của Bộ luật H nh sự, tuyên bố bị cáo Quảng Đại S Gen phạm tội “Hiếp dâm người dưới 1 tu i”, xử phạt bị cáo G từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không x t.
Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph h nh sự sơ th m.
Người b o vệ qu n, lợi ch hợp pháp của bị hại trình bà lời b o vệ:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ. Nhưng bên cạnh đó, có một số t nh tiết trong vụ án liên quan đến Châu Văn K1 có dấu hiệu đồng phạm chưa được làm rõ, nhất là nh ng nội dung ghi âm mà Châu Văn K1 và bị cáo đã nói chuyện với nhau qua tin nhắn zalo trong ngày 26/8/2024.
Hành vi của bị cáo G thực hiện hết sức đê hèn, việc dùng vũ lực để p bị hại quan hệ với bị cáo một cách miễn cưỡng đã làm cho bị hại vô cùng bức xúc và phẫn nộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực, nhận thức được hành vi đúng sai nhưng vẫn cố t nh thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy chỉ v muốn thỏa mãn nhu cầu t nh dục cá nhân mà bị cáo bất chấp, hành vi này của bị cáo là rất nguy hiểm, không nh ng đã vi phạm Luật Trẻ em, gây tổn hại về thể chất, t nh cảm, tâm lý, danh dự, nhân ph m của trẻ em mà còn là sự phẫn nộ đối với bậc làm cha m khi có con gái bị xâm hại. V vậy, với loại tội phạm này việc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhằm trừng trị, răn đe giáo dục để hạn chế sự gia tăng tội phạm về hành vi xâm hại trẻ em là điều rất cần thiết.
Tuy nhiên, cha m của bị cáo G cũng đã nhiều lần đến thăm hỏi, động viên và xin lỗi người bị hại và gia đ nh về việc làm sai trái pháp luật do con m nh gây ra, đồng thời bị cáo đã tác động gia đ nh khắc phục hết số tiền bên ph a bị hại yêu cầu, ph a bị hại và gia đ nh cũng đồng ý xin giảm nh h nh phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng x t xử sơ th m xem x t khi lượng h nh.
Sau khi nghe luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của m nh là sai, xin lỗi bị hại, gia đ nh bị hại và xin Hội đồng x t xử sơ th m giảm nh h nh phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xử lý về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, bị hại cùng người đại diện hợp pháp và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Tain Thị L, C, Đổng Thị Mỹ Đ, Quảng Đại D) đề nghị x t xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Châu Văn K1 và người làm chứng Lưu Văn T1 vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, x t thấy t nh tiết vụ án đã rõ, nh ng sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc x t xử. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng h nh sự, Hội đồng x t xử sơ th m vẫn tiến hành x t xử vụ án.
Qua x t hỏi công khai tại phiên tòa sơ th m, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh, đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ th m phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, Biên bản kiểm tra, Kết luận giám định, Biên bản khám nghiệm hiện trường,... và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 20 giờ ngày 26/8/2024, tại đường bê tông bờ tràn suối C thuộc thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là thôn T, xã M, tỉnh Khánh Hòa), lợi dụng t nh trạng không thể tự vệ, chống cự được của cháu Tain Thị K (sinh ngày 20/4/2011), Quảng Đại S đã thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của cháu K. Thời điểm bị xâm hại, cháu K chỉ mới 13 tuổi 04 tháng 06 ngày.
Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm h nh sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Hiếp dâm người dưới 1 tu i”, tội phạm và h nh phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật H nh sự:
“Đi u 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tu i đến dưới 1 tu i trái với ý muốn của họ;
...”
Cáo trạng số: 60/CT-VKS-NS ngày 19-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa) truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về t nh tiết tăng nặng, t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự:
Bị cáo không có t nh tiết tăng nặng.
Quá tr nh điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ th m, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, tác động gia đ nh “b i thường thiệt hại” cho bị hại và được bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị hại đề nghị xem x t giảm nh h nh phạt. Đây là nh ng t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.
Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo nhận thức rõ t nh mạng, sức khỏe, nhân ph m, danh dự của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Để đảm bảo được tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung th việc truy tố, đưa ra x t xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm h nh sự là cần thiết.
Thời điểm bị xâm hại, cháu K chỉ hơn 13 tuổi, hành vi của bị cáo trái với ý muốn của nạn nhân, gây ảnh hưởng tinh thần, tâm sinh lý, sự phát triển của bị hại, qua đó thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, bức xúc cho người dân, nhất là khi xã hội phát triển, nh ng hành vi lệch lạc như của bị cáo đáng bị lên án. Do đó, để bị cáo nhận thức nghiêm túc được hành vi của m nh và để làm tốt công tác răn đe, giáo dục ý thức trong cộng đồng, Hội đồng x t xử sơ th m x t thấy cần thiết phải áp dụng h nh phạt ch nh là tù có thời hạn, quy định tại Điều 38 Bộ luật H nh sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp.
Tuy nhiên, khi lượng h nh cũng xem x t cho bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, lối sống vẫn còn bản năng, bị cáo phạm tội lần đầu, không có t nh tiết tăng nặng và có 02 t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự nên Hội đồng x t xử sơ th m thống nhất áp dụng Điều 54 Bộ luật H nh sự, cho bị cáo hưởng mức h nh phạt dưới mức thấp nhất của khung h nh phạt bị truy tố, nhằm đảm bảo sự nghiêm minh nhưng cũng thể hiện phần nào sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Khoản 4 Điều 142 Bộ luật H nh sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Hội đồng x t xử sơ th m x t thấy việc áp dụng h nh phạt ch nh là tù có thời hạn đã đủ sức răn đe, nghiêm khắc, bị cáo làm thuê, công việc không ổn định nên không áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Tạm gi , sau đó trả lại các tài sản không liên quan đến tội phạm cho các chủ sở h u gồm: Quảng Đại S: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh; Châu Văn K1: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y16 màu xanh đen và 01 xe mô tô biển số 85D1-452.30; chị Đổng Thị Mỹ Đ: 01 xe mô tô biển số 85NP-068.30. Các chủ sở h u đã nhận lại tài sản và không có ý kiến g nên Hội đồng x t xử sơ th m không xem x t.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tác động cha m là ông Quảng Đại D và bà Đổng Thị Mỹ Đ bồi thường thay cho bị cáo 40.000.000 đồng cho bị hại, ph a bị hại và người đại diện cho bị hại không yêu cầu thêm, cha m bị cáo cũng không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này nên Hội đồng x t xử sơ th m không xem xét.
Về các hành vi liên quan:
Đối với đối tượng tên Châu Văn K1 đã có hành vi giúp sức về tinh thần và chỉ dẫn cách thức cho bị cáo thực hiện thành công hành vi phạm tội là có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo nhưng chưa được làm rõ. Sau 02 lần trả hồ sơ cho đề nghị xem x t hành vi đồng phạm của Châu Văn K1 quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015 nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa) không chấp nhận và vẫn bảo lưu Cáo trạng truy tố là chưa xem x t toàn diện vụ án và có dấu hiệu của bỏ lọt đồng phạm. Tuy nhiên, căn cứ Điều 298 về giới hạn của việc x t xử, Tòa án chỉ x t xử bị cáo theo Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời, kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa xem x t trong việc bỏ lọt hành vi đồng phạm của Châu Văn K1.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph h nh sự sơ th m.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng h nh sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về h nh phạt ch nh:
* Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 142, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật H nh sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố: Bị cáo Quảng Đại Siêu G phạm tội “Hiếp dâm người dưới 1 tu i”.
- Xử phạt bị cáo Quảng Đại Siêu G 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù t nh từ ngày 29/8/2024.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án ph , lệ ph Tòa án:
- Buộc bị cáo Quảng Đại S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngh n đồng) án ph h nh sự sơ th m.
3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng h nh sự:
Án x t xử k n, tuyên án công khai, có mặt bị cáo quyền kháng cáo bản án, Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị hại quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bị hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ th m (Ngày 15-7-2025).
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của m nh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 7 – Khánh Hòa; - Phòng THADS khu vực 7 – Khánh Hòa; - PV06 Công an tỉnh Khánh Hòa; - CQCSĐT Công an tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: Hồ sơ, Án văn h nh sự; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thùy Dung |