vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Đức H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05/9/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/HS-ST

Ngày: 17/01/2025

HUYỆN H Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Một. Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Huỳnh Lân; + Ông Trần Văn Hiệp. - Thư ký phiên toà: ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: ông Lương Văn Nhân - Kiểm sát viên. Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSST-QĐ ngày 26/12/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Võ Đức H; Giới tính: nam; Sinh ngày 01/6/1993; Nơi sinh: huyện T, Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Cha là Võ Minh H (sinh năm 1963) và mẹ là Nguyễn Thị N (sinh năm 1968); Bị cáo có 01 người em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt. - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Ông Võ Quốc L, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt. + Bà Nguyễn Thị Hoa P, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt. - Những người làm chứng: + Ông Phạm Đình T1, sinh năm 1988; + Ông Phạm Đình T2, sinh năm 1952.

Cùng trú tại: thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Tất cả đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 09 giờ 50 phút ngày 05/9/2024, tại khu vực rừng keo thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; Công an huyện H phát hiện bắt quả tang Võ Đức H đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại hiện trường thu giữ 01 mảnh giấy bạc bên trong màu trắng, bên ngoài màu xanh có ghi chữ DOUBIEMINT, trên mảnh giấy bạc có chất màu trắng dạng cục bột nghi là ma túy; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2000 đồng được cuộn lại thành dạng ống nghi dùng để sử dụng ma túy; 01 vỏ nhựa của ống nước cất; 01 bật lửa; 01 dao lam; 01 túi ni lông bên trong ghi chữ “Bơm tiêm sử dụng một lần” cùng nhiều đồ vật, tài liệu khác. Qua thử nước tiểu bằng que test nhanh Võ Đức H có kết quả dương tính với ma túy. * Kết quả điều tra xác định được như sau: Vào ngày 04/9/2024, Võ Đức H mua ma túy của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại xã P, huyện P với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/9/2024, Võ Đức H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92L1-0653 chở theo Võ Quốc L đi từ huyện Pvề huyện T, tỉnh Quảng Nam. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn C, xã Q, huyện H; Võ Đức H thấy đoạn đường vắng người nên nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy. H rủ L sử dụng ma túy thì L đồng ý. Võ Đức H chở L vào một rừng keo, thấy có một ngôi mộ nên cả hai dừng xe. H lấy từ trong người ra 01 gói ma túy được gói trong miếng giấy bạc loại giấy bọc bên ngoài của kẹo cao su DOUBLEMINT, 01 lưỡi dao lam, 01 bật lửa màu xanh, 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng mà H đã tự chuẩn bị; L lấy ra từ trong người 01 ống bơm kim tiêm, 01 ống nước cất mà L đã tự chuẩn bị từ trước. H lấy dao lam cắt ma túy thành nhiều cục nhỏ rồi lấy một ít ma túy đổ ra giấy bạc, sử dụng lửa đốt giấy bạc rồi dùng tờ tiền cuộn lại dạng ống tròn để hít ma túy. L sử dụng một ít ma túy cho vào bơm tiêm, đổ nước cất vào bơm tiêm, hòa tan ma túy rồi tiêm trực tiếp dung dịch có chứa ma túy vào vênh. Khi cả hai đang sử dụng ma túy thì Công an huyện H phát hiện bắt quả tang H, còn L cầm bơm tiêm chạy khỏi hiện trường. Quá trình điều tra, truy tố bị can Võ Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án Tại Bản Kết luận giám định số: 470/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: chất rắn dạng cục – bột màu trắng gửi giám định (A1) là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,08 gam; trên mẫu vật là 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn tròn gửi giám định (A2) tìm thấy chất ma túy loại Heroine (dạng vết). Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 25 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Võ Đức H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Võ Đức H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Võ Đức H từ 24 đến 30 tháng tù. - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015) tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: + 01 mảnh giấy bạc loại bọc bên ngoài của kẹo DOUBLEMINT, bên trong màu trắng, bên ngoài màu xanh. Trên giấy bạc có một ít chất màu trắng dạng cục bột (đã sử dụng hết trong quá trình giám định); + 01 túi ni lông bơm tiêm sử dụng một lần; + 01 vỏ nhựa của ống nước cất ống nhựa; + 01 bật lửa gas màu xanh; + 01 lưỡi dao lam có ghi chữ CROMA PREMIUM; + 01 áo khoác thun màu đen, loại dài tay của Võ Đức H; + 01 áo khoác thun màu xám, loại dài tay của Võ Quốc L. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: + 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu màu xanh, biển kiểm soát 92L1-0653; + 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn lại dạng hình ống hút. Tuyên trả cho Nguyễn Đức H: + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu xanh, bên trong gắn sim số 0393266860; + Số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trên người Võ Đức H. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được triệu tập hợp lệ vắng mặt nhưng lời khai của họ đã được thể hiện tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, 293, 299 BLTTHS năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với những người này. [2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng

về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3] Về hành vi phạm tội: Vào ngày 05/9/2024, tại khu vực rừng keo thuộc thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; Võ Đức H có hành vi cung cấp ma túy để tổ chức cho Võ Quốc L cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày thì Công an huyện H phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Võ Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hành phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015. [4] Về tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Song để phục vụ cho nhu cầu cá nhân là người nghiện và thường xuyên sử dụng ma túy bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến chính bản thân bị cáo và gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Xét về vai trò của bị cáo thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo H là người chuẩn bị, cung cấp ma túy cho Võ Quốc L cùng nhau sử dụng, tuy nhiên trước đó L không biết việc H đang cất giấu ma túy trong người, khi H nảy sinh ý định sử dụng ma túy thì rủ L cùng nhau sử dụng, H sử dụng bằng hình thức hút còn L sử dụng bằng hình thức tiêm chích, cả hai sử dụng ma túy bằng mỗi cách thức khác nhau. Như vậy Võ Quốc L không có vai trò đồng phạm cùng với H trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, hiện nay bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy điều kiện

kinh tế của bị cáo khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015: Xét thấy cần tịch thu tiêu hủy: - 01 mảnh giấy bạc loại bọc bên ngoài của kẹo DOUBLEMINT, bên trong màu trắng, bên ngoài màu xanh. Trên giấy bạc có một ít chất màu trắng dạng cục bột (đã sử dụng hết trong quá trình giám định); - 01 túi ni lông bơm tiêm sử dụng một lần; - 01 vỏ nhựa của ống nước cất ống nhựa; - 01 bật lửa gas màu xanh; - 01 lưỡi dao lam có ghi chữ CROMA PREMIUM. Tuyên tịch thu sung công quỹ: - 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn lại dạng hình ống hút; - 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu màu xanh, biển kiểm soát 92L1-0653. Tuyên trả cho Võ Đức H: - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu xanh, bên trong gắn sim số 0393266860; - Số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trên người Võ Đức H; - 01 áo khoác thun màu đen, loại dài tay. Tuyên trả cho Võ Quốc L 01 áo khoác thun màu xám, loại dài tay. [6] Quá trình điều tra xác định Võ Quốc L không góp tiền mua ma túy, không giúp sức cho Võ Đức H trong quá trình sử dụng trái phép chất ma túy nên Võ Quốc L không có dấu hiệu đồng phạm với Võ Đức H về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã có công văn gửi Công an xã Q xử phạt vi phạm hành chính Võ Quốc L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015. 1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Đức H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05/9/2024).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015: - Tuyên tịch thu tiêu hủy: + 01 mảnh giấy bạc loại bọc bên ngoài của kẹo DOUBLEMINT, bên trong màu trắng, bên ngoài màu xanh. Trên giấy bạc có một ít chất màu trắng dạng cục bột (đã sử dụng hết trong quá trình giám định); + 01 túi ni lông bơm tiêm sử dụng một lần; + 01 vỏ nhựa của ống nước cất ống nhựa; + 01 bật lửa gas màu xanh; + 01 lưỡi dao lam có ghi chữ CROMA PREMIUM. - Tuyên tịch thu sung công quỹ: + 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn lại dạng hình ống hút; + 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu màu xanh, biển kiểm soát 92L1-0653. - Tuyên trả cho bị cáo Võ Đức H: + 01 áo khoác thun màu đen, loại dài tay; + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu xanh, bên trong gắn sim số 0393266860; + Trả cho Võ Đức H số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng y). Số tiền này được gửi vào tài khoản số 3949.0.1053906.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H mở tại Kho bạc Nhà nước H ngày 27/11/2024. - Tuyên trả cho Võ Quốc L 01 áo khoác thun màu xám, loại dài tay. (Tất cả các vật chứng trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 27/11/2024). - Tuyên lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo trong quá trình điều tra vụ án. 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xử buộc bị cáo Võ Đức H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/01/2025). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ