vanban.org

Bản án 02/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H, Vương Thị O phạm tội: “Đánh bạc”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai tư) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng T - Quàng Hoàng A - Nguyễn Minh T - Phạm Thị Ngọc H - Vương Thị O - Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H, Vương Thị O phạm tội: “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày: 16/1/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Thịnh

2. Bà Đào Phương Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Gấm – Thư ký viên chính Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 16/1/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 302/2023/TLST-HS ngày 11/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2023/QĐXXST-HS ngày 02/1/2024 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN HỒNG T, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1961; Nơi ĐKHKTT: 29 tổ 8 phố P, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Số 16 Phố T, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Quốc tịch:Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 3/10; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; Có 03 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 1980 đến 1983 tập trung cải tạo về hành vi đánh bạc - Ngoài thời hiệu.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 đến ngày 17/5/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

2. QUÀNG HOÀNG A, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh S; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Thái, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:12/12; Con ông Quàng Văn D và bà H; Họ và tên vợ: Lò Thị T, sinh năm 1996; Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 đến ngày 17/5/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

3. PHẠM THỊ NGỌC H, giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Số 37 Phố T, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Mạnh T và bà Nguyễn Thị Kim L (đã chết); Họ và tên chồng: Vũ Mạnh Q, sinh năm 1978; Có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 đến ngày 17/5/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

4. NGUYỄN MINH T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1955; Nơi ĐKHKTT: 29 tổ 8 phố P, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: 1A ngõ 215 P, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:7/10; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Họ và tên vợ: Phạm Thị Bích L (đã chết); Có 02 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1990.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 đến ngày 17/5/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

5. VƯƠNG THỊ O, Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1964; Nơi cư trú: 14 ngách 38/21 Phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:7/10; Con ông Vương Văn Đ (đã chết) và bà Đoàn Thị V (đã chết); Họ và tên chồng: Nguyễn Đức H, sinh năm 1964; Có 01 con, sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án đã được xóa.

Nhân thân: Ngày 21, 22/5/2003, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Án số 390/HSST). Đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 7559 ngày 31/01/2005. Án tích đã được xoá.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 đến ngày 17/5/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/5/2023, tổ công tác Công an phường P phối hợp cùng Đội Cảnh sát hình sự - Công an quận Hoàn Kiếm trong khi làm nhiệm vụ đã tiến hành kiểm tra tầng 2 nhà số 16 Phố T, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội của Nguyễn Hồng T phát hiện có Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H, Vương Thị O và 01 đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “Sâm” bằng bài tây 52 lá. Quá trình kiểm tra, Hoàng A và đối tượng nam giới bỏ chạy. Ngay lập tức, tổ công tác đã bắt giữ được Hoàng A còn đối tượng nam giới bỏ chạy thoát. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an phường P giải quyết (BL 106 đến 109).

- Thu giữ trên chiếu bạc (BL 110; 111):

+ Số tiền 6.050.000 đồng;

+ 02 bộ bài (mỗi bộ gồm 52 lá bài) đã qua sử dụng;

+ 01 chiếc hộp bằng nhựa đã qua sử dụng;

+ 01 chiếc chăn tối màu đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã bị khóa nên không kiểm tra được cấu hình bên trong.

- Thu giữ của Nguyễn Hồng T (BL 153):

+ Số tiền 11.000.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, dung lượng 16 GB, lắp số thuê bao: 0904534141, số IMEI: 354450063423064 đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Phạm Thị Ngọc H (BL 201):

+ Số tiền 1.650.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen, số IMEI 1: 353465103917007/01, số IMEI 2: 353465103917005/01, lắp sim 1 số: 0979181689, sim 2 số: 0387169626.

- Thu giữ của Quàng Hoàng A (BL 237):

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 Star màu đen có số IMEI 1: 356563091123791/01, IMEI 2: 356564091123799/01, lắp sim 1 số: 0968783303, sim 2 số: 0985092001, đã cũ, đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Nguyễn Minh T (BL 274):

+ Số tiền 1.440.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64 GB, màu trắng, số IMEI: 354858091742877, lắp sim số: 0906285015, đã cũ, đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Vương Thị O (BL 310):

+ Số tiền 1.000.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, số IMEI: 357174068157645, lắp sim số: 0904438273, đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 08/5/2023, T sử dụng điện thoại di động cá nhân liên hệ, rủ rê, tập hợp bốn người gồm: Vương Thị O, Phạm Thị Ngọc H, Quàng Hoàng A và T (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà của T tại số 29 tổ 8 phố P (nay là 16 Phố T), phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội để đánh bạc dưới hình thức chơi “Sâm” bằng bộ bài tây 52 lá. Khi bắt đầu ván bài người chơi sẽ được chia 10 lá. Ở ván đầu tiên, người giữ quân bài nhỏ nhất trong bàn sẽ được đánh trước. Từ ván thứ 2 trở đi, người về nhất của ván trước sẽ giành quyền đi đầu. Người đi sau sẽ lần lượt chặn bài người đi trước bằng quân bài/bộ bài lớn hơn người đi trước đánh. Khi đánh ra một quân/bộ mà không ai trong bàn chặn được, người chơi sẽ giành được cái cho lượt đi kế tiếp. Nếu người chơi chỉ còn một quân bài trên tay, người chơi sẽ phải “Báo” cho cả làng. Người chơi trước cửa người “Báo” sẽ phải bằng mọi giá chặn không cho người đó “về” bằng cách phán đoán hoặc đánh ra con bài lớn nhất của mình. Nếu người đã “Báo” về nhất mà trên tay của người trước vẫn còn bài/bộ lớn hơn nhưng không đánh thì sẽ bị đền. Mức đền bằng tổng số lá bài mà tất cả người chơi còn cộng với quân hai, cộng với “Tứ quý”. Nhóm của T chơi 10.000 đồng/lá. Báo ù “Sâm” là thắng mỗi người 200.000 đồng. Khi có người chơi thắng, đã báo ù “Sâm” thì bỏ vào chiếc hộp bằng nhựa 50.000 đồng để T lấy tiền mua thuốc lá, nước uống. Tại đây, T trực tiếp tham gia đánh bạc cùng 04 người trên (Theo thứ tự vòng tròn từ trái qua phải: T – H – T – Hoàng A – O). Khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Minh T đến nên T nhường lại vị trí mình đang ngồi để T chơi còn T đi phơi quần áo rồi ngồi bên cạnh T để xem, thỉnh thoảng đứng dậy quan sát cảnh giới. Tổng số tiền hồ T được hưởng lợi là 150.000 đồng, trong đó 100.000 đồng đã cất vào ví còn 50.000 đồng trên chiếu. Đến 15 giờ cùng ngày, khi cả nhóm đang ngồi đánh bạc thì bị công an phát hiện bắt giữ như nêu trên. Số tiền 11.000.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng tiền hồ thu của các con bạc) là của T, sử dụng để đánh bạc. Chiếc điện thoại Iphone 6 màu bạc là của T, có sử dụng để liên hệ, rủ rê, tập hợp các đối tượng tham gia đánh bạc. Hai bộ bài (mỗi bộ gồm 52 lá bài); 01 chiếc hộp bằng nhựa và 01 chiếc chăn tối màu là của T chuẩn bị để phục vụ việc đánh bạc (BL 125 đến 152).

Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H, Vương Thị O khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Hồng T.

Quàng Hoàng A mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc và thắng số tiền 1.700.000 đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 Star màu đen là của Hoàng A, sử dụng liên lạc cá nhân (BL 212 đến 237).

Nguyễn Minh T mang theo số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc và thua số tiền 160.000 đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng là của T, sử dụng liên lạc cá nhân (BL 255 đến 274).

Phạm Thị Ngọc H mang theo số tiền 2.150.000 đồng để đánh bạc và thua số tiền 230.000 đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen là của H, sử dụng liên lạc cá nhân (BL 173 đến 199).

Vương Thị O mang theo số tiền 1.500.000 đồng, đã sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc và thua hết. Khi bị công an kiểm tra, O vẫn đang tiếp tục đánh bạc. Nếu thua sẽ vay tiền để chơi còn số tiền 1.000.000 đồng là tiền để dành cho con trai đi cai nghiện, không sử dụng để đánh bạc. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh là của O dùng để liên lạc cá nhân (BL288 đến 309).

Số tiền 6.050.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc trong đó có 3.700.000 đồng của Hoàng A, 270.000 đồng của H, 50.000 đồng của T và 2.030.000 đồng của đối tượng T dùng để đánh bạc.

Về đối tượng tên T bỏ chạy khỏi hiện trường, căn cứ lời khai của Nguyễn Hồng T và biên bản kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín số thuê bao 0975873395 (của T) nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời nên chưa có căn cứ để xác minh làm rõ. Ngày 12/11/2023, Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu liên quan đến đối tượng T cùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đồng thời ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 286/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo: Quàng Hoàng A, Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Minh T và Vương Thị O về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và khẳng định không bị oan. Ngoài ra, bị cáo T, Hoàng A và O khai trước đó còn 01 lần đánh bạc cũng với hình thức chơi Sâm 5000đồng/1 ván nhưng không nhớ dùng bao nhiêu tiền để đánh bạc. Ngoài lời khai không có chứng cứ gì chứng minh nên không đủ căn cứ để giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung các trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T mức án từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 8/5/2023 đến ngày 17/5/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vương Thị O mức án từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 8/5/2023 đến ngày 17/5/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Hoàng A, Phạm Thị Ngọc H mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hoàng A cho UBND xã T, huyện T, tỉnh S; bị cáo H cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo dõi, quản lý trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 10 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo dõi, quản lý trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do không có thu nhập ổn định.

Về tang vật: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 20.140.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, dung lượng 16 GB, lắp số thuê bao: 0904534141, số IMEI: 354450063423064 đã qua sử dụng (của bị cáo T).

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen, số IMEI 1: 353465103917007/01, số IMEI 2: 353465103917005/01, lắp sim 1 số: 0979181689, sim 2 số: 0387169626; Trả lại cho bị cáo Quàng Hoàng A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 Star màu đen có số IMEI 1: 356563091123791/01, IMEI 2: 356564091123799/01, lắp sim 1 số: 0968783303, sim 2 số: 0985092001, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64 GB, màu trắng, số IMEI: 354858091742877, lắp sim số: 0906285015, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Vương Thị O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, số IMEI: 357174068157645, lắp sim số: 0904438273, đã cũ, đã qua sử dụng và 1.000.000 (một triệu) đồng do không liên quan đến hành vi đánh bạc..

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài (mỗi bộ gồm 52 lá bài) đã qua sử dụng; 01 chiếc hộp bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 chiếc khăn tối màu đã qua sử dụng.

Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nhau, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 08/5/2023, Nguyễn Hồng T đã có hành vi rủ rê, lôi kéo, sử dụng địa điểm là nhà ở của T, chuẩn bị các công cụ (bộ bài tây, chiếc hộp bằng nhựa, chăn) tổ chức cho Quàng Hoàng A, Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Minh T, Vương Thị O và đối tượng T (không rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Sâm” với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 20.140.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại tầng 2 số 16 Phố T, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng T có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tổ chức đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của các bị cáo Quàng Hoàng A, Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Minh T, Vương Thị O đủ dấu hiệu cấu thành tội: Đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn quận Hoàn Kiếm. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người khởi xướng, các bị cáo đều là người thực hành.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: các bị cáo trong vụ án không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hồng T và bị cáo Nguyễn Ngọc T là hai anh ruột, có anh trai là liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ và hiện có bàn thờ do bị cáo T trực tiếp thờ cúng liệt sỹ tại số nhà 29 tổ 8 phố Phường P (nay là 16 Phố T). Ngoài ra bị cáo T có vợ bị suy thận phải điều trị dài ngày tại bệnh viện, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Vương Thị O có bố mẹ ruột là người có công với cách mạng, đều được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, chồng là bộ đội phục viên và con trai nghiện ma Ty, hoàn cảnh rất khó khăn nên các bị cáo T, T, O được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Hồng T nhân thân năm 1980 đến năm 1983 tập trung cải tạo về hành vi đánh bạc (ngoài thời hiệu), bị cáo năm nay 63 tuổi là người cao tuổi theo quy định của pháp luật. Bị cáo Vương Thị O nhân thân có 1 tiền án đã được xóa: Ngày 21, 22/5/2003, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Án số 390/HSST). Quá trình xác minh thi hành án thể hiện, bị cáo đã chấp hành xong khoản tiền phạt và tiền án phí, vì vậy bị cáo đã được xóa án tích. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội để các bị cáo tự sửa dổi bản thân, có cơ hội lao động chân chính chăm sóc gia đinh.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về tang vật: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 20.140.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, dung lượng 16 GB, lắp số thuê bao: 0904534141, số IMEI: 354450063423064 đã qua sử dụng (của bị cáo T) có liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen, số IMEI 1: 353465103917007/01, số IMEI 2: 353465103917005/01, lắp sim 1 số: 0979181689, sim 2 số: 0387169626; Trả lại cho bị cáo Quàng Hoàng A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 Star màu đen có số IMEI 1: 356563091123791/01, IMEI 2: 356564091123799/01, lắp sim 1 số: 0968783303, sim 2 số: 0985092001, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64 GB, màu trắng, số IMEI: 354858091742877, lắp sim số: 0906285015, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Vương Thị O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, số IMEI: 357174068157645, lắp sim số: 0904438273, đã cũ, đã qua sử dụng và 1.000.000 (một triệu) đồng do không liên quan đến hành vi đánh bạc..

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài (mỗi bộ gồm 52 lá bài) đã qua sử dụng; 01 chiếc hộp bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 chiếc khăn tối màu đã qua sử dụng.

(Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận ngày 25/12/2023 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 26/12/2023).

Về đối tượng tên T bỏ chạy khỏi hiện trường, căn cứ lời khai của Nguyễn Hồng T và biên bản kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín số thuê bao 0975873395 (của T) nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời nên chưa có căn cứ để xác minh làm rõ. Ngày 12/11/2023, Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu liên quan đến đối tượng T cùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đồng thời ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Các bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo T, bị cáo T là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Quàng Hoàng A, Nguyễn Minh T, Phạm Thị Ngọc H, Vương Thị O phạm tội: “Đánh bạc”

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo T cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo T cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Vương Thị O 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo O cho UBND phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Hoàng A 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng A cho UBND xã T, huyện T, tỉnh S giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Ngọc H 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo H cho UBND phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

6. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 20.140.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, dung lượng 16 GB, lắp số thuê bao: 0904534141, số IMEI: 354450063423064 đã qua sử dụng (của bị cáo T) có liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu đen, số IMEI 1: 353465103917007/01, số IMEI 2: 353465103917005/01, lắp sim 1 số: 0979181689, sim 2 số: 0387169626; Trả lại cho bị cáo Quàng Hoàng A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 Star màu đen có số IMEI 1: 356563091123791/01, IMEI 2: 356564091123799/01, lắp sim 1 số: 0968783303, sim 2 số: 0985092001, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64 GB, màu trắng, số IMEI: 354858091742877, lắp sim số: 0906285015, đã cũ, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Vương Thị O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, số IMEI: 357174068157645, lắp sim số: 0904438273, đã cũ, đã qua sử dụng và 1.000.000 (một triệu) đồng do không liên quan đến hành vi đánh bạc..

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài (mỗi bộ gồm 52 lá bài) đã qua sử dụng; 01 chiếc hộp bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 chiếc khăn tối màu đã qua sử dụng.

Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2023 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 26/12/2023.

7. Án phí: Các bị cáo O, Hoàng A, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T, T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ