- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân Ph phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2023/HS-ST Ngày: 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Phan Văn Ký
+ Ông Nguyễn Tấn Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm Xuân Ph, sinh năm 1990 tại S, Phú Yên. Tên gọi khác: P. Nơi cư trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Th, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Cảnh X, sinh năm 1956. Vợ: Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1993 (đã ly hôn). Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 16/11/2021, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác với số tiền 3.000.000 đồng (nộp phạt ngày 09/01/2023).
- Ngày 18/10/2021, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác số tiền 3.500.000 đồng (nộp phạt ngày 12/01/2023).
- Ngày 23/12/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ không có giấy phép để đánh nhau số tiền 12.500.000 đồng (nộp phạt ngày 09/01/2023).
Nhân thân:
- Ngày 26/6/2007 bị Toà án nhân dân huyện T xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 07/5/2019 bị Toà án nhân dân thị xã S xử phạt 01 năm tù về hành vi cố ý gây thương tích. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 20/3/2022. Bị cáo có mặt. 2. Nguyễn Xuân V, sinh năm 1997, tại S, P. Tên gọi khác: Ch. Nơi cư trú: thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Xuân D, sinh năm 1971 và mẹ: Nguyễn Thị R, sinh năm 1970. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã S xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Bị bắt ngày 20/3/2022). Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam A2 – Cục C10 Bộ Công an đóng tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Bị cáo có mặt. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Vợ chồng ông Phạm Th, sinh năm 1954, bà Lê Thị Cảnh X, sinh năm 1956; Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Ông Th vắng mặt, bà X có mặt.
- Anh Nguyễn Xuân D, sinh năm 1971; Nơi cư trú: thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt. *Những người làm chứng:
- Anh Trần Nhật H, sinh năm 2001; Nơi cư trú: khu phố Ph, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1999; Nơi cư trú: khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ ngày 20/3/2022, Phạm Xuân Ph rủ Trần Nhật H và Huỳnh Văn D nhậu tại nhà của ông Phạm Th, bà Lê Thị Cảnh Xn (là cha, mẹ ruột của Ph) thuộc thôn H, xã X, thị xã S. Sau đó, H và D ở lại phòng ngủ của Ph. Đến 14 giờ 59 phút, cùng ngày Ph nhắn tin qua Facebook Messenger cho Trần Nhật H ở lại phòng để Ph mua ma túy về cùng sử dụng, Ph sử dụng số điện thoại 0395.825.534 gọi đến số 0346.457.665 của Nguyễn Xuân V mua 02 viên thuốc lắc và nữa hộp Ketamine với giá 3.100.000 đồng. Nguyễn Xuân V sử dụng số điện thoại 0346.457.665 gọi đến số 0911.054.737 của người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy. V tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 77M6 - 4375 (xe của ông Nguyễn Xuân D là cha ruột của V) điều khiển đến khu vực Khu công nghiệp Phú Tài thuộc thành phố Q, tỉnh B để lấy ma túy. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô đến khu vực gần nhà Phú giao 02 viên thuốc lắc và nữa hộp Ketamine cho Ph rồi lấy số tiền 3.100.000 đồng, Ph hứa sẽ trả thêm cho V 100.000 đồng. Ph đem số ma túy nói trên vào phòng ngủ và rủ Trần Nhật H và Huỳnh Văn D cùng nhau sử dụng ma túy, Ph nuốt 01 viên thuốc lắc, D và H mỗi người nuốt nữa viên thuốc lắc. Ph đổ ma túy loại Ketamine ra đĩa sứ dùng thẻ ngân hàng Agribank nghiền nát, mở nhạc, đèn và dùng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá 555 để làm ống hút để cho cả nhóm cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an thị xã S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ ma túy còn lại và các dụng cụ để sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 119/GĐ-PC09 ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì nilon trong suốt (ký hiệu A) là ma túy có khối lượng 0,562g, loại Ketamine.
Vật chứng vụ án: 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 22,5cm, trên đĩa sứ có chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Phạm Xuân Phú; 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc 555; 01 (một ) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen có sim số điện thoại 0973099450 và số điện thoại 0395825534 và 01 (một) bì niêm phong, mặt trước bì niêm phong có ghi “hoàn trả cho cơ quan CSĐT CATX . Sông Cầu A = 0,425g Ketamine còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 119/KL – KTHS ngày 28/03/2022”. Mặt sau bì niêm phong có hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, chữ ký ghi tên Thượng tá Phạm Ngọc T và chữ ký ghi tên Phan Đức Kha, 01 (một) loa nghe nhạc nhãn hiệu Kiomic kích thước (25x20x9)cm; 01 (một) đèn nháy nhãn hiệu STAR MASTER.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSSC ngày 24/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Phạm Xuân Ph về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, truy tố bị cáo Nguyễn Xuân V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Phạm Xuân Ph, Nguyễn Xuân V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố phát biểu luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 48/CT-VKSSC ngày 24/11/2022. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Phạm Xuân Ph phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Ph đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Xuân Ph từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/3/2022. Áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo V đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt 01 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu. Buộc bị cáo V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, thời hạn kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/3/2022.
Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 22,5cm, trên đĩa sứ có chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Phạm Xuân Phú; sim số điện thoại 0973099450 và số điện thoại 0395825534 và 01 (một) bì niêm phong, mặt trước bì niêm phong có ghi “hoàn trả cho cơ quan CSĐT CATX . Sông Cầu A = 0,425g Ketamine còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 119/KL – KTHS ngày 28/03/2022”. Mặt sau bì niêm phong có hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, chữ ký ghi tên Thượng tá Phạm Ngọc T và chữ ký ghi tên Phan Đức Kha và 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc 555 do không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) loa nghe nhạc nhãn hiệu Kiomic kích thước (25x20x9)cm; 01 (một) đèn nháy nhãn hiệu STAR MASTER và 01 (một ) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen, 01 (Một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng còn giá trị sử dụng và là công cụ dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu và cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Sông Cầu lập ngày 25/11/2022.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu, Điều tra viên, VKSND thị xã Sông Cầu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Th và những người làm chứng nhưng việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng.
Lời khai của các bị cáo Phạm Xuân Ph và Nguyễn Xuân Vn tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu là chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 20/3/2022, tại nhà của ông Phạm Th, bà Lê Thị Cảnh X thuộc thôn Hòa Mỹ, xã Xuân Cảnh, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, Phạm Xuân Ph có hành vi rủ rê, chuẩn bị dụng cụ và cung cấp chất ma túy cho Trần Nhật H và Huỳnh Văn D cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Công an thị xã S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ 0,562g dưới dạng Ketamine. Hành vi trên đây của Phạm Xuân Ph đã phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Vào khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 20/3/2022, tại thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Xuân V có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Phạm Xuân Ph với số tiền 3.100.000 đồng. Hành vi trên đây của Nguyễn Xuân V đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được Katemin là dạng ma tuý tổng hợp, là chất nhà nước cấm mua bán, trao đổi, sử dụng nhưng bị cáo Ph vì mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân và bị cáo Viên nhằm mục đích kiếm lợi nhuận để tiêu xài cá nhân mà các bị cáo cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
Do đó, quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 48/CT – VKSSC ngày 24/11/2022 của VKSND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Bị cáo Phạm Xuân Ph có 03 tiền sự, bị cáo Nguyễn Xuân V bị Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vào ngày 30/9/2022. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Riêng bị cáo Ph tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện điều tra tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý đối với Nguyễn Xuân Vn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 và có mẹ được Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo tặng huy chương Vì sự nghiệp giáo dục năm 1999, tặng Bằng khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2004-2005 là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
Bị cáo V đang chấp hành hình phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên áp dụng Điều 55 và khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn
định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vật chứng vụ án:
- Đối với 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 22,5cm, trên đĩa sứ có chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Phạm Xuân Phú; sim số điện thoại 0973099450 và số điện thoại 0395825534 và 01 (một) bì niêm phong, mặt trước bì niêm phong có ghi “hoàn trả cho cơ quan CSĐT CATX . Sông Cầu A = 0,425g Ketamine còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 119/KL – KTHS ngày 28/03/2022”. Mặt sau bì niêm phong có hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, chữ ký ghi tên Thượng tá Phạm Ngọc T và chữ ký ghi tên Phan Đức Kha, 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc 555 là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 (một) loa nghe nhạc nhãn hiệu Kiomic kích thước (25x20x9)cm; 01 (một) đèn nháy nhãn hiệu STAR MASTER; 01 (một ) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen và 01 (Một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đ là công cụ dùng vào việc phạm tội và có giá trị sử dụng nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Xuân V do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu không đủ cơ sở xác minh để xử lý nên HĐXX không xem xét.
Đối với số điện thoại 0911.054.737 người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Xuân V, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu đã ban hành Công văn số 149 ngày 15/7/2022 gửi Tổng Công ty hạ tầng mạng VNPT Net đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao nhưng chưa có kết quả nên sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau nên HĐXX không xem xét.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 77M6 - 4375 của ông Nguyễn Xuân D là phương tiện mà Viên sử dụng để mua bán trái phép chất ma túy nhưng ông D không biết, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 77M6 - 4375 cho ông Nguyễn Xuân D, ông D không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.
Đối với Trần Nhật H và Huỳnh Văn D là người được Phạm Xuân Ph rủ để cùng sử dụng ma túy cũng không góp tiền nên H và D không đồng phạm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX không xem xét.
Đối với ông Phạm Th, bà Lê Thị Cảnh X là chủ nhà nhưng không biết Phạm Xuân Ph có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo Phạm Xuân Ph, Nguyễn Xuân V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân Ph phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân Ph 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/3/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.
2.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân V 02 (Hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, buộc bị cáo V phải chấp hành hình phạt chung là: 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2022.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 22,5cm, trên đĩa sứ có chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Phạm Xuân Phú; sim số điện thoại 0973099450 và số điện thoại 0395825534 và 01 (một) bì niêm phong, mặt trước bì niêm phong có ghi “hoàn trả cho cơ quan CSĐT CATX . Sông Cầu A = 0,425g Ketamine còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 119/KL – KTHS ngày 28/03/2022”. Mặt sau bì niêm phong có hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, chữ ký ghi tên Thượng tá Phạm Ngọc Toàn và chữ ký ghi tên Phan Đức Kha, 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc 555.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) loa nghe nhạc nhãn hiệu Kiomic kích thước (25x20x9)cm; 01 (một) đèn nháy nhãn hiệu STAR MASTER; 01 (một ) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh đen và 01 (một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã S và cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S lập ngày 25/11/2022 .
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Xuân Ph, Nguyễn Xuân V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
| *Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND thị xã Sông Cầu; - VKSND tỉnh Phú Yên; - CQĐT-Công an thị xã Sông Cầu; - CQTHAHS-Công an thị xã Sông Cầu; - Chi cục THADS thị xã Sông Cầu; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phan Văn Ký Nguyễn Tấn Thành | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Văn Tôn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |