vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 03/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thạch T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Phạt bị cáo Thạch T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc t ngày bị cáo bị bắt để thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS - ST.
Ngày: 03 - 02 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trà Minh Châu.

Ông Hà Phương Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hà Quang Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thạch T; sinh ngày 08/7/1995; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm Thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Sa R, sinh năm 1964 và bà Kim Thị D, sinh năm 1965; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cấm đi kh i nơi cư trú t ngày 21 tháng 10 năm 2022 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Vương Văn M; sinh ngày 01/01/1937; trú tại: Ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Thạch Đức T; sinh năm 1980; trú tại: Ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

2. Ông Thạch N; sinh năm 1971; trú tại: Ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng): Bà Lâm Thị Đ; sinh năm 1967; trú tại: Ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mối quan hệ bạn bè, thường xuyên chơi chung nên vào khoảng 19 giờ ngày 23/10/2017, Thạch T cùng với Dương I, Kim Ngọc Đ và Thạch Đức T, sinh năm: 1980, cư trú: ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, nhậu tại nhà Thạch Nghĩa, sinh năm: 1971, cư trú tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc nhậu, I rủ T, Đ và T đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì tất cả đồng ý. Sau khi nhậu xong, cả nhóm đi ăn bún tại quán bún (T không nhớ tên) tại khu vực cầu Saintard, thuộc phường 8, thành phố Sóc Trăng. Sau khi ăn bún xong, T điều khiển xe mô tô biển số 83P1-151.85 chở Đ còn T điều khiển xe mô tô biển số 83P2-736.68 chở Inh cùng đi về hướng ấp D, xã H, huyện P. Đi được một đoạn thì T không đi nữa và T điều khiển xe mô tô biển số 83P2-736.68 đi về. Lúc này, I đi sang xe của T, T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 83P1-151.85 chở Đ và I đi về hướng ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng.

Đến khoảng 02 giờ ngày 24/10/2017, T, I và Đ d ng xe tại khu vực gần nhà ông Vương Văn M, sinh ngày 01/01/1937, cư trú tại ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. T và I xuống xe còn Đ thì điều khiển xe 83P1-151.85 chạy đi và hẹn khi nào I điện thoại thì Đ sẽ quay lại rước T và I. Sau đó, Inh lén lút đột nhập vào nhà ông M để tìm tài sản trộm, T thì đứng bên ngoài. Khi vào được bên trong nhà ông M thì I lấy trộm được 01 bộ lư đồng và 01 cái vali. I đem tài sản trộm được ra ngoài chỗ T và tháo rời bộ lư đồng ra, T định phụ tháo nhưng I không cho vì sợ T làm hư. Sau khi tháo rời, I để vào trong vali đưa cho T, T ôm cái vali có chứa bộ lư đồng đi ra lộ rồi điện thoại cho Đang lại rước, sau đó Đang chạy xe lại và chở T cùng cái vali có chứa bộ lư đồng về nhà T cất giấu. Còn Dương I ở lại khu vực nhà ông M.

Đến khoảng 04 giờ ngày 24/10/2017, I điện thoại kêu Đ quay lại rước Inh thì T và Đ quay lại rước I về nhà T. Đến sáng ngày 24/10/2017, I và Đ chở cái vali có chứa bộ lư đồng đến nhà Thạch N để tìm người bán, còn T thì ở nhà. Đối với ông M, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã trình báo công an.

Tại kết luận định giá số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Phú kết luận: 01 (một) bộ lư đồng bằng kim loại màu vàng gồm lư hương và 02 chân đèn, tổng trọng lượng là 13,9kg; phần lư hương gồm: nắp, thân và đế lư hương, trên phần thân lư hương có 01 chùm kim loại hình trái đào, trên nắp lư hương có 01 khối kim loại hình con lân. Phần lư hương dài 22cm, rộng 19cm, cao 23cm. Đế lư hương dài 22,5cm, rộng 18cm, cao 12cm. 02 (hai) chân đèn mỗi chân có số đo: cao 47cm, đường kính chân đèn 18cm, đường kính mâm tròn 24cm, đường kính ngọn 5cm, có giá trị 5.500.000 đồng; 01 (một) vali màu xám có kích thước chiều dài 60cm, rộng 40cm, cao 20cm (theo nguyên giá 260.000 đồng) giá trị sử dụng còn lại 5%, thành tiền 13.000 đồng. Tổng cộng số tiền định giá 5.513.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

Quá trình điều tra bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

Xét thấy có đủ căn cứ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương I, Thạch T, Kim Ngọc Đ về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Trong quá trình điều tra I, T, Đ đã th a nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hiện nay Dương I và Kim Ngọc Đ đã b trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã tách vụ án để tiếp tục điều tra, khi nào bắt được Dương I và Kim Ngọc Đ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS-LP ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Thạch T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự).

Bị cáo Thạch T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Bị hại Vương Văn Muôn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự xét xử theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Thạch T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do muốn có tiền để th a mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 02 giờ ngày 24/10/2017, tại ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, Dương I đã rủ bị cáo Thạch T, Kim Ngọc Đ cùng lấy trộm 01 bộ lư đồng, 01 cái vali của bị hại Vương Văn M, trị giá 5.513.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Thạch T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác nên cần phải xử lý nghiêm. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 138; các điểm g, h, p khoản 1, Điều 46; khoản 2, Điều 46; điểm h, khoản 1, Điều 48; Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Thạch T t 06 tháng đến 01 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét. Về xử lý vật chứng: 01 (một) bộ lư đồng bằng kim loại màu vàng gồm lư hương và 02 chân đèn, tổng trọng lượng là 13,9kg; phần lư hương gồm: nắp, thân và đế lư hương, trên phần thân lư hương có 01 chùm kim loại hình trái đào, trên nắp lư hương có 01 khối kim loại hình con lân. Phần lư hương dài 22cm, rộng 19cm, cao 23cm. Đế lư hương dài 22,5cm, rộng 18cm, cao 12cm. 02 (hai) chân đèn mỗi chân có số đo: cao 47cm, đường kính chân đèn 18cm, đường kính mâm tròn 24cm, đường kính ngọn 5cm; 01 (một) vali màu xám có kích thước chiều dài 60cm, rộng 40cm, cao 20cm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã trả lại cho bị hại Vương Văn M; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 83P2-738.68 là của Thạch Đức T đăng ký sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã trả lại cho Thạch Đức T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 83P1-151.85 do bị cáo Thạch T giao nộp. Quá trình điều tra xác định T điều khiển xe 83P1-151.85 đi thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên xe này do ông Quui C đăng ký chủ sở hữu, hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú chưa làm việc được với ông Quui C để làm rõ nguồn gốc xe 83P1-151.85. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú tiếp tục quản lý và điều tra, xác minh, xử lý chung với vụ án đã được tách ra.

Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch T: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị hại ông Vương Văn M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Đức T, ông Thạch N và người làm chứng bà Lâm Thị Đ vắng mặt; ông M, ông Thạch Đức T, ông N và bà Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Thạch T khai nhận: Do muốn có tiền để th a mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 02 giờ ngày 24/10/2017, tại ấp D, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, Dương I đã rủ Kim Ngọc Đ và bị cáo Thạch T cùng lấy trộm 01 bộ lư đồng, 01 cái vali của bị hại Vương Văn M có trị giá 5.513.000 đồng.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Lời th a nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo:

Khi được Dương I rủ đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý và giúp sức một cách tích cực bằng cách sử dụng xe mô tô chở I và Đ cùng đi trộm cắp tài sản, khi Dương I lấy trộm được bộ lư đồng và cái vali của bị hại M và đem ra đưa cho T thì T nhận lấy và cùng với Đ chở về nhà. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 5.513.000 đồng mà bị cáo Thạch T đã thực hiện phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Vì vậy, cáo trạng số: 38/CT-VKS-LP ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Thạch T về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương và có tác dụng phòng ng a chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhận thấy: Bị cáo Thạch T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với bị hại Vương Văn M, sinh ngày 01/01/1937 là người già theo điểm h, khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

6 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhận thấy: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo là người dân tộc Khmer nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, h, p khoản 1, Điều 46; khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, không còn tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ thêm cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) bộ lư đồng bằng kim loại màu vàng gồm lư hương và 02 chân đèn, tổng trọng lượng là 13,9kg; phần lư hương gồm: nắp, thân và đế lư hương, trên phần thân lư hương có 01 chùm kim loại hình trái đào, trên nắp lư hương có 01 khối kim loại hình con lân. Phần lư hương dài 22cm, rộng 19cm, cao 23cm. Đế lư hương dài 22,5cm, rộng 18cm, cao 12cm. 02 (hai) chân đèn mỗi chân có số đo: cao 47cm, đường kính chân đèn 18cm, đường kính mâm tròn 24cm, đường kính ngọn 5cm; 01 (một) vali màu xám có kích thước chiều dài 60cm, rộng 40cm, cao 20cm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã trả lại cho bị hại Vương Văn M; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 83P2-738.68 là của Thạch Đức T đăng ký sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã trả lại cho Thạch Đức T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 83P1-151.85 do bị cáo Thạch T giao nộp. Quá trình điều tra xác định T điều khiển xe 83P1-151.85 đi thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên xe này do ông Quui Ch đăng ký chủ sở hữu, hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú chưa làm việc được với ông Quui Ch để làm rõ nguồn gốc xe 83P1-151.85. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú tiếp tục quản lý và điều tra, xác minh, xử lý chung với vụ án đã được tách ra.

Đối với Thạch Đức T, sau khi được I rủ đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý nhưng sau khi đi được một đoạn T đã b về và không tham gia trộm cắp tài sản cùng với I, T, Đ. Do đó, hành vi của Thạch Đức T thuộc trường hợp tự ý nửa ch ng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), đồng thời T biết T cùng đồng phạm chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng không đi tố giác, tuy nhiên T cùng đồng phạm phạm Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú không xử lý T là có căn cứ đúng pháp luật.

Đối với việc Dương I và Kim Ngọc Đ đem bộ lư đồng và cái vali đến nhà Thạch N, tuy nhiên thời điểm này Thạch N không có nhà và N không biết bộ lư đồng và cái vali là do bị cáo, Dương I và Kim Ngọc Đ lấy trộm được nên không xử lý Thạch N về hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với việc ông Vương Văn M trình báo mất trộm số tiền 22.660.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đang tiếp tục điều tra, xử lý trong vụ án đã được tách.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48, Điều 20, Điều 33, Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo Thạch T.

1. Tuyên bố: Bị cáo Thạch T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Phạt bị cáo Thạch T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc t ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã xử lý vật chứng trong quá trình điều tra đã thu giữ nên không đặt ra xem xét. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 83P1-151.85 tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú quản lý và điều tra, xác minh, xử lý chung với vụ án đã được tách ra.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Thạch T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể t ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ