vanban.org

Bản án 02/2021/LĐ-PT — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 01/02/2021 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/02/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B; giữ nguyên quyết định của bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Ph.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tôn Quốc Ch về việc “Tranh chấp thanh toán tiền công lao động” với ông Đầu Khắc B. Buộc ông Đầu Khắc B trả cho ông Tôn Quốc Ch 10.260.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền công lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "nguyên đơn Tôn Quốc Ch; bị đơn Đầu Khắc B"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B; giữ nguyên quyết định của bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/LĐ-PT
Ngày: 01/02/2021
“V/v: Tranh chấp thanh toán tiền
công lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: ông Trần Minh Bắc

- Các thẩm phán:

bà Nguyễn Thị Quang

ông Trương Văn Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Nga – cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ông Trương Minh Nghị – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/01/2021, 01/02/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 10/2020/TLPT-LĐ ngày 12/11/2020 về “Tranh chấp thanh toán tiền công lao động”, do bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Ph bị kháng cáo; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐ-PT ngày 30/11/2020, quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐ-PT ngày 29/12/2020, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 01/2021/QĐ-PT ngày 25/01/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Tôn Quốc Ch, sinh năm 1949 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ I, khu phố V, phường Ph, thị xã Ph, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Bị đơn: ông Đầu Khắc B, sinh năm 1958 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ X, khu phố V, phường Ph, thị xã Ph, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Người làm chứng: Ông Lê Cao Th, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ Y, khu phố T, phường Ph, thị xã Ph, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người kháng cáo: bị đơn Đầu Khắc B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2020 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/8/2020, bản tự khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn Tôn Quốc Ch trình bày:

Ông Đầu Khắc B là thợ xây, thầu xây dựng nên đã gọi ông theo làm phụ hồ, sửa chữa công trình xây dựng và phụ giúp việc nhà; chỉ thỏa thuận miệng mà không lập hợp đồng do hai bên quen biết nhau, cụ thể:

1. Tháng 10/2017, ông phụ hồ cho ông B sửa chữa quán ăn Ng tại khu phố L, phường M, thị xã Ph, tổng cộng 06 công x 270.000 đồng/công = 1.620.000 đồng. Ông yêu cầu ông B trả công sau khi hoàn thiện công việc, nhưng ông B nói đang đầu tư xây dựng chuồng dê nên chưa có tiền trả.

2. Tháng 09/2018, ông phụ hồ cho ông B tháo dỡ và xây lại tường rào cho chùa Viên Thành tại khu phố T, phường Ph, thị xã Ph, tổng cộng 16 công x 270.000 đồng/công = 4.320.000 đồng. Nhà chùa đã thanh toán, nhưng ông B không trả tiền công cho ông.

3. Trong năm 2018 (không nhớ rõ ngày, tháng) ông còn làm một số công việc cho gia đình ông B như sau:

3.1. Phụ hồ cho ông B xây mộ con tại nghĩa trang thuộc khu phố T, phường Ph, thị xã Ph: 02 công x 270.000 đồng/công = 540.000 đồng.

3.2. Phụ hồ cho ông B xây nhà cho con trai tại khu phố T, phường Ph, thị xã Ph: 05 công x 270.000 đồng/công = 1.350.000 đồng.

3.3. Phụ ông B xây dựng chuồng dê: đổ bê tông dầm và các tấm đan, tháo dỡ chuồng cũ, làm sàn 02 chuồng mới, lợp thay xà gồ, tole mới 02 chuồng, làm hàng rào nhốt thả dê cho khu vườn rộng hơn 01 ha: 18 công x 300.000 đồng/công = 5.400.000 đồng.

3.4. Làm rẫy phụ ông B trong mùa mưa năm 2018, gồm: phun thuốc trừ cỏ, phun thuốc độc chống chim Cu moi hạt giống khi nảy mầm, phun thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng, làm cỏ, bón phân, dọn tỉa bắp, đậu xanh, thu hoạch bắp, lắp hệ thống tưới tự động, làm hàng rào bao quanh 02 khu đất rẫy: 31 công x 300.000 đồng/công = 9.300.000 đồng.

3.5. Phụ ông B chặt tầm vông về làm khung chuồng vịt, chuồng thỏ, bọc lưới kẽm trong tháng 11/2018: 07 công x 300.000 đồng/công = 2.100.000 đồng. Ông không hùn hạp vốn nuôi thỏ, gà, vịt với ông B.

Tổng số tiền công ông yêu cầu ông B phải trả là 24.630.000 đồng.

2. Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn Đầu Khắc B trình bày:

1. Tháng 10/2017, ông có gọi ông Ch đi phụ sửa chữa quán ăn Ng. Ông Ch phụ ông lắp hệ thống ống khói, trộn hồ cho ông xây bàn bếp, tổng cộng 02 công. Do ông Ch đi chăn dê hay làm lạc, mất dê nên ông gọi ông Ch đi làm phụ cho ông; vợ ông phải đi chăn dê thay cho ông Ch. Ông không thỏa thuận việc trả tiền công cho ông Ch vì đây là hình thức hoán đổi công, nên không đồng ý trả tiền.

2. Tháng 09/2018, ông gọi ông Ch đi xây tường rào của chùa Viên Thành. Ông làm thợ xây, ông Ch phụ hồ, xây trong 02 tuần (14 công) là xong. Nhà chùa trả ông công thợ là 250.000 đồng/công, ông Ch công phụ là 170.000 đồng/công. Ông nhận tiền công của cả hai, nhưng chưa trả tiền công cho ông Ch vì đã dùng để mua thức ăn cho dê.

3. Về những việc ông Ch kiện đòi tiền công làm tại nhà ông:

3.1. Ông không thuê, không nhờ ông Ch làm phụ hồ xây mộ cho con trai và phụ hồ xây nhà cho một người con trai khác (tên là Đầu Khắc Q) của ông.

3.2. Ông Ch hùn nuôi dê với ông, nên phải xây dựng chuồng mới cho dê ở. Ông Ch có phụ ông đổ tấm đan lót dưới sàn cho dê đứng, xây dựng 03 bức tường quanh chuồng, lợp mái tole. Ông Ch làm không liên tục, chỉ tranh thủ lúc ông Ch đi chăn dê về phụ thêm cho ông, hoặc ngày nào ông Ch phụ ông thì vợ ông đi chăn dê thay ông Ch. Ông Ch có trách nhiệm phụ làm chuồng dê, chứ ông không thỏa thuận thuê ông Ch phụ làm chuồng dê. Cộng tổng số công ông Ch phụ ông xây chuồng dê khoảng 08 – 10 ngày công.

3.3. Ông không thuê ông Ch làm rẫy cho gia đình ông. Ông Ch phụ làm rẫy để lấy thức ăn cho dê. Ông phải bỏ toàn bộ tiền giống cây, thuê máy cày, phân bón, thuốc trừ sâu... Ông Ch hùn tiền mua dê nhưng không hùn tiền thức ăn cho dê nên có trách nhiệm góp công sức chăm sóc dê. Ông và ông Ch cùng đi phun thuốc trừ sâu hay bón phân, chỉ mất khoảng 01 - 02 giờ, chứ không kéo dài một ngày công. Ông Ch phụ ông làm hàng rào chỉ trong 01 buổi chiều là xong, dùng lưới cước bao quanh chưa hết 02 rẫy nên không mất nhiều thời gian. Tổng số công ông Ch phụ cho ông là 08 công, gồm 05 công tỉa bắp, 03 công bón phân.

3.4. Sau khi bán dê, ông Ch tiếp tục rủ ông nuôi gà, vịt, thỏ. Ông mua 01 bụi tầm vông, dùng máy cắt chứ không chặt. Ông Ch chỉ đi kéo tre về nhà ông và phụ ông đóng khung làm chuồng. Vì sử dụng máy móc, nên thời gian ông Ch làm chỉ khoảng 02 công, nhưng đây là trách nhiệm của ông Ch trong việc làm chuồng nuôi chung gà, vịt, thỏ; chứ ông không thuê ông Ch.

Vì vậy, ông không đồng ý trả cho ông Ch 24.630.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của ông Ch.

2. Ý kiến người làm chứng Lê Cao Th:

Ông làm nghề thợ xây. Năm 2018, ông làm chung công trình xây dựng bờ tường rào của Chùa Viên Thành thuộc khu phố T, phường Ph, thị xã Ph với ông B và ông Ch. Nhà chùa giao ông quản lý công thợ. Ông B là thợ xây, ông Ch là thợ phụ. Tổng cộng ông B và ông Ch làm được 16 công. Nhà chùa đã trả thợ xây 400.000 đồng/công, thợ phụ 270.000 đồng/công cho ông B và ông Ch đầy đủ. Ông B là người đứng ra nhận tiền công của hai người.

3. Tại bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020, Tòa án nhân dân thị xã Ph đã quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tôn Quốc Ch về việc “Tranh chấp thanh toán tiền công lao động” với ông Đầu Khắc B; buộc ông B trả cho ông Ch 10.260.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền công lao động.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí lao động sơ thẩm, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Ngày 07/10/2020, ông Đầu Khắc B kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác liên quan đến việc giải quyết vụ án, và không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

6. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và những người tham gia tố tụng đã công khai thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới so với phiên tòa sơ thẩm nên không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên nội dung quyết định án sơ thẩm đã tuyên.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B trong hạn luật định và đúng thủ tục tố tụng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, xem xét theo trình tự phúc thẩm. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng:

[1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Tôn Quốc Ch khởi kiện ông Đầu Khắc B (trú tại Tổ X, khu phố V, thị xã Ph, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) yêu cầu thanh toán 24.630.000 đồng tiền công lao động theo hợp đồng lao động mùa vụ. Tòa án nhân dân thị xã Ph thụ lý, xét xử sơ thẩm vụ án lao động “Tranh chấp thanh toán tiền công lao động” là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông B kháng cáo đối với bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Ph. Căn cứ các Điều 38, 270, 271, 273, 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người tham gia tố tụng đến phiên tòa phúc thẩm. Người làm chứng Ông Lê Cao Th vắng mặt, nhưng lời khai đã thể hiện rõ trong hồ sơ; nên Hội đồng xét xử căn cứ các khoản 2 Điều 229, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định tiếp tục phiên tòa.

. Nội dung vụ án:

Ông Tôn Quốc Ch khởi kiện yêu cầu ông Đầu Khắc B thanh toán công lao động mùa vụ thuê làm trong năm 2017 và 2018, gồm: làm phụ hồ tại quán ăn Ng, chùa Viên Thành, xây mộ, xây nhà cho con trai ông B; phụ giúp công việc gia đình cho ông B (làm chuồng dê, chuồng gà, vịt, thỏ, làm rẫy). Ông B thừa nhận có nhờ ông Ch làm phụ hồ tại quán ăn Ng, chùa Viên Thành và phụ giúp một số công việc gia đình ông B như làm chuồng dê, chuồng gà, vịt, thỏ, làm rẫy, nhưng là hình thức hoán đổi công chăn dê, làm rẫy để có thức ăn cho dê nuôi chung nên ông Bkhông đồng ý trả tiền công cho ông Ch.

Tòa án nhân dân thị xã Ph xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ch. Ông B kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Ph theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B:

. Ông Tôn Quốc Ch yêu cầu ông Đẩu Khắc B trả tiền công lao động thuê làm phụ hồ và phụ giúp công việc gia đình trong năm 2017 và 2018. Ông B thừa nhận có thuê ông Ch làm phụ hồ và phụ giúp một số công việc gia đình như làm chuồng dê, chuồng gà, vịt, thỏ, làm rẫy. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định ông Ch có làm phụ hồ và một số công việc gia đình phụ giúp ông B.

. Các bên không thống nhất được với nhau về số ngày công và mức lương áp dụng. Ông Ch trình bày là 85 công, gồm: 29 công phụ hồ theo đơn giá 270.000 đồng/công, 56 công phụ việc nhà theo đơn giá 300.000 đồng/công; tổng cộng 24.630.000 đồng. Ông B chỉ thừa nhận khoảng 34 - 36 công, gồm: 16 công phụ hồ theo đơn giá 170.000 đồng/công, 18 – 20 công phụ việc nhà cộng dồn; nhưng không đồng ý thanh toán vì cho rằng công lao động của ông Ch là hình thức hoán đổi công trong việc hùn vốn, hùn công chăn nuôi chung; toàn bộ tiền công lao động của ông Ch đã chuyển thành tiền góp mua thức ăn cho đàn gia súc, gia cầm thỏa thuận góp vốn nuôi chung giữa hai người.

. Ông Ch không xuất trình được các chứng cứ chứng minh cho số ngày công chưa được ông Bthanh toán. Ông B không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận đổi công và ông Ch đồng ý chuyển tiền công lao động thành tiền vốn góp chăn nuôi chung gia súc, gia cầm.

. Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở lời khai của người làm chứng, lời thừa nhận của bị đơn về số công lao động chưa thanh toán cho nguyên đơn, mức lương áp dụng ở địa phương tại thời điểm thuê công lao động; quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn Đầu Khắc B thanh toán cho nguyên đơn Tôn Quốc Ch tiền lương của 36 công lao động (18 công phụ hồ + 18 công phụ việc khác) bằng 10.260.000 đồng là có căn cứ đúng pháp luật.

[4.] Từ những phân tích và nhận định ở trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và đúng pháp luật. Kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B yêu cầu sửa án sơ thẩm không có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[5.] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tôn Quốc Ch không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đầu Khắc B vì thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

[5.] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Đầu Khắc B kháng cáo nhưng không được chấp nhận, phải nộp án phí phúc thẩn theo luật định, nhưng được miễn án phí vì thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đầu Khắc B; giữ nguyên quyết định của bản án lao động sơ thẩm số 11/2020/LĐ-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Ph.

Căn cứ các điểm điểm c khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 38, khoản 2 Điều 229, Điều 296, các Điều 270, 271, 273, 293, 147, 148, 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 6, các Điều 15, 16, 90, khoản 1 Điều 201 Bộ luật Lao động; các điểm a, đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Pháp lệnh số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tôn Quốc Ch về việc “Tranh chấp thanh toán tiền công lao động” với ông Đầu Khắc B.

Buộc ông Đầu Khắc B trả cho ông Tôn Quốc Ch 10.260.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền công lao động.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Án phí lao động sơ thẩm:

Miễn án phí cho ông Tôn Quốc Ch và ông Đầu Khắc B.

3. Án phí lao động phúc thẩm:

Miễn án phí cho ông Đầu Khắc B.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (01/01/2021).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ