vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kon Rẫy , tỉnh Kon Tum Tuyên án 16/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ 24 (hai mươi ốn) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 24/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 10 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP Về chứng minh nhân dân; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON RẪY,
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HS-ST
Ngày 16-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Do

Ông Trần Đình Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông A Thống - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ tên: I V N Đ Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam.

Sinh ngày .... tháng ... năm 197x tại: c Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 03/10 ;

Nghề nghiệp: Làm nông.

Nơi cư trú: Thôn ..., xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.

Con ông Lại Văn C ch và bà Tô Thị T; Sinh năm 193x, hiện cư trú tại thôn Bn, xã C, huyện L, tỉnh B c Giang.

Gia đình ị cáo c 10 anh chị em, ị can là ngư i con th 6.

Họ tên v : Ma Thị D; Sinh năm 196x. Hiện đang sinh sống và làm nông tại thôn ..., xã Đ, h K, tỉnh Kon Tum.

ị cáo c 05 ngư i con (lớn nhất sinh năm 1993, nh nhất sinh năm 2008.)

Tiền án: Ngày 03/12/2002, Lại Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh B c Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm c p tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 LHS 1999. Đến ngày 31/08/2004, Đ đư c đ c xá tha t trước th i hạn và phải tiếp tục bồi thư ng dân sự số tiền 6.290.000 đồng nhưng đến nay bị can Đ vẫn chưa thực hiện việc bồi thư ng dân sự nói trên. Tiền sự: Không.

Bị cáo Lại Văn Đ bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/12/2018 đến ngày 27/12/2018; bị tạm giam từ ngày 27/12/2018 đến nay. Bị cáo có m t tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án:

Ông A H ; trú tại: Thôn…, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum (c đơn xin xét xử v ng m t).

- Những người làm chứng:

+ Ông Hoàng văn S; sinh năm 197x; trú tại: Thôn.., xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum v ng m t.

+ Bà Ma Thị D; sinh năm 196x; trú tại: Thôn..., xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum có m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Vào trưa ngày 23/12/2018, Lại Văn Đ (sinh năm 197x, cư trú Thôn..., xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum) b t xe uýt đến bến xe huyện Ngọc Hồi để mua ma túy của một ngư i đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) đ ng trước bến xe huyện Ngọc Hồi với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thì ngư i đàn ông này đưa cho Đ 02 gói giấy có ch a ma túy. Sau đ , Đ đ n xe uýt về nhà và lấy một ít ra để sử dụng, số còn lại Đ dùng kéo c t giấy vở ô ly thành các mảnh nh , dùng ống hút nhựa đã c t nhọn một đầu để phân chia ma túy thành 14 gói nh để sử dụng dần. Đ b vào túi áo khoát của mình 03 gói, còn 11 gói thì Đ b vào trong lọ nhựa màu tr ng và đem cất giấu trong túi xách để ở sau vư n nhà mình. Đến sáng ngày 24/12/2018, Đ mư n ông Hoàng Văn S chiếc xe mô tô BKS 82B1 – 661.86 đi đến địa bàn xã Tân Lập để mua đồ ăn và xi lanh kim tiêm thì bị tổ tuần tra Công an huyện Kon Rẫy kiểm tra, b t giữ, thu giữ 03 gói giấy có ch a chất bột màu tr ng và ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở Lại Văn Đ thu giữ thêm 11 gói giấy có ch a chất bột màu tr ng.

Tại bản kết luận giám định số 130 ngày 26/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum, kết luận: Chất ột màu tr ng ên trong 14 g i giấy thu giữ trên ngư i và tại nhà của Lại Văn Đ là ma tuý, có khối lư ng 0,3829 gam, là loại: Heroine.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Rẫy đã thu giữ, xử lý trả lại cho chủ sở hữu h p pháp chiếc xe mô tô BKS 82B1 – 661.86 và giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô này.

Vật ch ng, đồ vật, tài liệu thu giữ còn lại chưa xử lý gồm:

01 điện thoại di động màu đen, loại àn phím cơ, nhãn hiệu Itel, ên trong c 01 sim Viettel c số thuê ao 0349716917.

Số ma túy còn lại sau giám định đư c đựng trong 02 túi ni lông (ký hiệu lần lư t M1; M2) đư c niêm phong trong 01 phong bì m t trước có nội dung “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, phía dưới c chữ: "Địa chỉ: 198 Phan Chu Trinh – TP. Kon Tum – Tỉnh Kon Tum", m t sau c 06 dấu tròn đ ng trên các m p phong ì c chữ “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, c chữ kí của ông Nguyễn Hữu Tiên và ông Ph ng Văn Quế.

01 cuốn sổ, 02 ống hút nhựa màu vàng, k sọc tr ng, 01 k o ng kim loại, 01 túi xách màu xám, 01 lọ nhựa màu tr ng, 16 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng (có đặc điểm, kích hước mô tả như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2019 giữa Cơ quan CS T Công an huyện Kon Rẫy và Chi cục THADS huyện Kon Rẫy).

01 Giấy ch ng minh nhân dân số 241477290, họ tên: Lại Văn Đ, do Công an tỉnh Đ k L k cấp ngày 07/01/2011.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSNDHKR ngày 20/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy đã quyết định truy tố bị cáo Lại Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân dân huyện Kon Rẫy để xét xử sơ thẩm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ từ 18 tháng t đến 24 tháng tù.

Về xử lý đồ vật, tài liệu, vật ch ng vụ án bị thu giữ:

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- Số ma túy còn lại sau giám định đư c đựng trong 02 túi ni lông (ký hiệu lần lư t M1; M2) đư c niêm phong trong 01 phong bì m t trước có nội dung “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, phía dưới c chữ: "Địa chỉ: 198 Phan Chu Trinh – TP. Kon Tum – Tỉnh Kon Tum", m t sau c 06 dấu tròn đ ng trên các m p phong ì c chữ “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, c chữ kí của ông Nguyễn Hữu Tiên và ông Ph ng Văn Quế.

- 01 cuốn sổ, 02 ống hút nhựa màu vàng, k sọc tr ng, 01 k o ng kim loại, 01 túi xách màu xám, 01 lọ nhựa màu tr ng, 16 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng (có đặc điểm, kích hước mô tả như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2019 giữa Cơ quan CS T Công an huyện Kon Rẫy và Chi cục THADS huyện Kon Rẫy).

Áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, loại àn phím cơ, nhãn hiệu Itel, ên trong c 01 sim Viettel c số thuê ao 0349716917.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về ch ng minh nhân dân. Chuyển giao cơ quan thi hành hình phạt tù tạm giữ 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 241477290, họ tên: Lại Văn Đ, do Công an tỉnh Đ k L k cấp ngày 07/01/2011. Bị cáo nhận lại Ch ng minh nhân dân khi chấp hành xong án phạt tù.

Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận đối đáp gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra tại phiên tòa bị cáo c khai thêm trước đây (không nhớ rõ th i gian) có lên Ngọc Hồi - Kon Tum mua ma túy của 01 ngư i lạ m t (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 400.000đ nhưng không iết khối lương ao nhiêu, loại chất ma túy gì và đã sử dụng hết không còn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kon Rẫy, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo không c ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lại Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. L i khai của bị cáo phù h p với các ch ng c , tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử c đủ cơ sở khẳng định:

Lại Văn Đ là ngư i nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng, trưa ngày 23/12/2018 Lại Văn Đ (sinh năm 1970, cư trú Thôn 13, xã Đ k Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum) đến bến xe huyện Ngọc Hồi mua ma túy của một ngư i đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đ ng trước bến xe huyện Ngọc Hồi với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) . Sau đ , Đ đ n xe uýt về nhà và lấy một ít ra để sử dụng, số còn lại Đ chia thành 14 gói nh để sử dụng dần (không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy). Đ b vào túi áo của mình 03 gói, còn 11 gói Đ b vào trong lọ nhựa màu tr ng và đem cất giấu trong túi xách để ở sau vư n nhà mình. Đến sáng ngày 24/12/2018, Đ mư n ông Hoàng Văn S chiếc xe mô tô BKS 82B1 – 661.86 đi đến địa bàn xã Tân Lập để mua đồ ăn và xi lanh kim tiêm thì ị tổ tuần tra Công an huyện Kon Rẫy kiểm tra, b t giữ, thu giữ 03 gói giấy có ch a chất bột màu tr ng và ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở Lại Văn Đ thu giữ thêm 11 gói giấy có ch a chất bột màu tr ng. Kết luận giám định: Chất ột màu tr ng ên trong 14 g i giấy thu giữ trên ngư i và tại nhà của Lại Văn Đạo là ma tuý loại Heroine, có khối lư ng 0,3829 gam.

Đối chiếu với Điều 249 của Bộ luật hình sự thì hành vi trên của bị cáo Lại Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố và luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy là hoàn toàn có cơ sở.

Xét tính chất, m c độ của hành vi phạm tội mà bị cáo Đ đã thực hiện là nghiêm trọng; cố ý xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận th c đư c chất ma túy là chất mà Nhà nước cấm sử dụng, việc tàng trữ trái phép là vi phạm pháp luật, việc nghiện ma túy là một trong những nguyên nhân, tác nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác nhưng để th a mãn cơn nghiện bị cáo đã cố ý phạm tội.

Xét về đ c điểm nhân thân; tình tiết tăng n ng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo Đ có 01 tiền án về tội “Trộm c p tài sản” chưa đư c xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trư ng h p “tái phạm” theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự nên bị cáo chịu tình tiết tăng n ng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; nhưng trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;

Về hình phạt ổ sung: theo các tài liệu, ch ng c và l i khai của ị cáo tại phiên toà cho thấy gia đình ị cáo làm nông, điều kiện kinh tế kh khăn, do đ , Hội đồng x t xử quyết định không áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 ộ luật hình sự.

Đối với hành vi bị cáo khai tại phiên tòa: trước đây (không nhớ rõ th i gian) có lên Ngọc Hồi-Kon Tum mua ma túy của 01 ngư i lạ m t (không rõ họ tên lai lịch) với số tiền 400.000đ nhưng không iết khối lư ng bao nhiêu, loại ma túy gì và đã sử dụng hết. Hội đồng xét xử xét thấy không thể thu thập, ch ng minh để xem xét xử lý.

Đối với ngư i đàn ông án ma tuý cho ị cáo do không xác định đư c tên, tuổi và địa chỉ cụ thể cho nên không c căn c để xem x t, xử lý.

Về xử lý đồ vật, tài liệu, vật ch ng vụ án:

Số ma túy còn lại sau giám định đư c đựng trong 02 túi ni lông (ký hiệu lần lư t M1; M2) đư c niêm phong trong 01 phong bì m t trước có nội dung “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, phía dưới c chữ: "Địa chỉ: 198 Phan Chu Trinh – TP. Kon Tum – Tỉnh Kon Tum", m t sau c 06 dấu tròn đ ng trên các m p phong ì c chữ “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, c chữ kí của ông Nguyễn Hữu Tiên và ông Ph ng Văn Quế (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối ượng giám định ngày 26/12/2018) là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 cuốn sổ, 02 ống hút nhựa màu vàng, k sọc tr ng, 01 k o ng kim loại, 01 túi xách màu xám, 01 lọ nhựa màu tr ng, 16 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng (có đặc điểm, kích hước như biên bản giao, nhận vậ chứng ngày 22/3/2019 giữa Cơ quan CS T Công an huyện Kon Rẫy và Chi cục THADS huyện Kon Rẫy . Đây là những công cụ, phương tiện ị cáo d ng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động màu đen, loại àn phím cơ, nhãn hiệu Itel, ên trong c 01 sim Viettel c số thuê ao 0349716917 là tài sản đư c thu giữ không phải là vật ch ng nên đư c trả lại cho bị cáo.

01 Giấy ch ng minh nhân dân số 241477290, họ tên: Lại Văn Đ, do Công an tỉnh Đ k L k cấp ngày 07/01/2011 lẽ ra phải tạm giữ tại cơ quan thi hành lệnh tạm giam nhưng hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Căn c điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về ch ng minh nhân dân nên chuyển giao cho cơ quan thi hành án phạt tù tạm giữ trong th i gian bị cáo chấp hành án phạt tù.

01 xe mô tô BKS 82B1 – 661.86 và giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô nói trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Rẫy đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu h p pháp đúng quy định nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lại Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2015 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ 24 (hai mươi ốn) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 24/12/2018.

2. Về xử lý đồ vật, tài liệu, vật ch ng vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.Tịch thu tiêu hủy:

Số ma túy còn lại sau giám định đư c đựng trong 02 túi ni lông (ký hiệu lần lư t M1; M2) đư c niêm phong trong 01 phong bì m t trước có nội dung “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, phía dưới c chữ: "Địa chỉ: 198 Phan Chu Trinh – TP. Kon Tum – Tỉnh Kon Tum", m t sau c 06 dấu tròn đ ng trên các m p phong ì c chữ “CÔNG AN T NH KON TUM* PHÒNG K THUẬT H NH S ”, c chữ kí của ông Nguyễn Hữu Tiên và ông Ph ng Văn Quế (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối ượng giám định ngày 26/12/2018).

01 cuốn sổ, 02 ống hút nhựa màu vàng, k sọc tr ng, 01 k o ng kim loại, 01 túi xách màu xám, 01 lọ nhựa màu tr ng, 16 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng (có đặc điểm, kích hước như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2019 giữa Cơ quan CS T Công an huyện Kon Rẫy và Chi cục THADS huyện Kon Rẫy).

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, loại àn phím cơ, nhãn hiệu Itel, ên trong c 01 sim Viettel c số thuê ao 0349716917.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về ch ng minh nhân dân;

Chuyển giao cơ quan thi hành án phạt tù tạm giữ 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 241477290, họ tên: Lại Văn Đ, do Công an tỉnh Đ k L k cấp ngày 07/01/2011 trong th i gian bị cáo chấp hành án phạt tù. Bị cáo nhận lại Ch ng minh nhân dân khi chấp hành xong án phạt tù.

3. Về án phí:

Căn c Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2015 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lại Văn Đ phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/5/2019). Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan v ng m t tại phiên tòa thì th i hạn trên tính từ ngày bản án đư c giao ho c niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ