vanban.org

Bản án 02/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 02/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Vũ Thị H phạm tội: “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; Điều 30; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 Phạt tiền: Vũ Thị H 8.000.000đ (tám triệu đồng) sung quĩ Nhà nước Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Vũ Thị H phạm tội: “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02/2018/HSST
Ngày 02/3/2018

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Hòa

Ông Bùi Thanh Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Giang Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình;

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/TLST - HS ngày 29 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thị H, sinh năm: 1982; Sinh tại: Phường N, thành phố N, tỉnh N; Nơi ĐKHKTT: Phố B, phường N, thành phố N, tỉnh N; Chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh NB; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Svà bà Mai Thị V; Có chồng tên là Phạm Hồng T và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Đàm Trọng H, sinh năm 1982

Trú tại: Thôn D, xã N, huyện H, tỉnh NB, vắng mặt

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh NB, vắng mặt

- Người làm chứng: Ông Lê Xuân C, sinh năm 1966

Trú tại: Thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh NB, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị H, sinh năm 1982 làm đại lý cho công ty xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình, tại nhà ở thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh N, ngoài việc bán vé xổ số, lô tô cho Nhà Nước, H đã bán số lô, số đề trái phép cho một số đối tượng và người đi đường, sau đó dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày để trực tiếp tính toán và trả thưởng. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 11 tháng 12 năm 2017, Vũ Thị H bán số lô, số đề cho Đàm Trọng H, sinh năm 1982; trú tại: Thôn D, xã N, huyện H, tỉnh NB và Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh NB tại nhà mình với tổng số tiền 5.400.000đ thì bị công an huyện H bắt quả tang cụ thể:

Đàm Trọng H ghi lô Ninh Bình các số: 18, 88 mỗi số 50 điểm, mỗi điểm là 20.000đ và các số đề gồm: Đầu 1, đầu 2 mỗi số là 50.000đ. Số tiền Đàm Trọng H phải trả cho Vũ Thị H là 3.000.000đ

Nguyễn Văn L ghi số đề gồm các số: Đít 1 mỗi số là 50.000đ, số 17, 71, 18, 81 mỗi số 20.000đ; số lô Hà Nội gồm các số 71, 17 mỗi số 30 điểm, số 18, 81 mỗi số 15 điểm, mỗi điểm là 23.000đ; lô Ninh Bình số 45 là 10 điểm. Số tiền L phải trả cho H là 2.400.000đ

Tại cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận hình thức chơi lô, đề như sau: Đối với số đề, người chơi mua các số tự nhiên bất kỳ các số từ 00 đến 99 so với hai số cuối của giải đặc biệt của kết quả sổ xố Miền Bắc mở thưởng trong ngày, trúng thưởng người mua sẽ được hưởng gấp 80.000đ số tiền đã bỏ ra. Đối với số lô, người chơi mua bất kỳ từ số 00 đến 99 và được tính theo điểm, mỗi điểm lô Ninh Bình giá 20.000đ, mỗi điểm lô Hà Nội giá 23.000đ. Đọ với hai số cuối của tất cả các giải kết quả số xố Miền Bắc mở thưởng trong ngày, trúng thưởng người chơi sẽ được hưởng 70.000đ/một điểm lô Ninh Bình, 80.000đ/một điểm lô Hà Nội. Nếu không trúng H sẽ được hưởng toàn bộ số tiền đã bán lô, bán đề. Quá trình bắt quả tang Cơ quan điều tra công an huyện H đã thu giữ của Vũ Thị H số tiền 6.840.000đ (trong đó có 5.4000.000đ vừa bán số lô, số đề trái phép cho Hướng và Linh; 1.440.000đ Huệ bán số lô, số đề cho người đi đường không rõ tên tuổi, địa chỉ); 01 bảng lô, đề và 01 tờ kết quả sổ xố ghi các số lô, số đề Huệ bán trong ngày 11/12/2017; 01 chiếc kéo cán nhựa mầu vàng; 02 chiếc bút bi mực mầu xanh nhãn hiệu Thiên Long; 01 điện thoaị di động nhãn hiệu ASUS Zenpone mầu trắng; Thu giữ của Đàm Trọng H và Nguyễn Văn L mỗi người 01 cáp đề kích thước (7x5)cm (ghi vào tờ vé lô tô 10.000đ của Nhà Nước) có ghi các số lô, số đề vừa mua của H

Tại bản cáo trạng số 04/CT - VKS - HL ngày 26/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Vũ Thị H về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 và khoản 3 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999. Phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội :“Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năn 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 26/6/2017. phạt tiền Vũ Thị Huệ từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu huỷ 02 bút bi mực mầu xanh nhãn hiệu Thiên Long; 01 chiếc kéo cán nhựa mầu vàng; Tịch thu xung công quĩ nhà nước số tiền 5.400.000đ đã thu giữ của Vũ Thị H

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiển toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng qui định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vũ Thị H khai nhận, có ký hợp đồng với công ty THHH một thành viên sổ xố kiến thiết tỉnh NB mở đại lý bán vé số và bán lô tô cho công ty, lợi dụng việc bán vé số và bán lô tô cho công ty. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 11/12/2017 bị cáo H có bán số lô, số đề trái phép cho Đàm Trọng H, Nguyễn Văn L với tổng số tiền 5.400.000đ và cho một số người đi đường với tổng số tiền 1.440.000đ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H bắt quả tang. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng vào hợp đồng mở đại lý bán vé số cho công ty TNHH một thành viên sổ xố kiến thiết Ninh Bình, đã ghi, bán số lô, số đề trái phép sau đó tự tính toán để trả thưởng cho những người đã mua số lô, số đề. Nếu người mua không trúng, thì bị cáo H được toàn bộ số tiền của những người đã bỏ tiền ra mua số lô, số đề của bị cáo. Hành vi bán số lô, số đề trái phép của bị cáo cho anh Đàm Trọng H và anh Nguyễn Văn L ngày 11/12/2017 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, nay được qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành, mà Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố là đúng người đúng tội, HĐXX xét thấy căn cứ vào nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 26/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015 hướng dẫn không áp dụng các tình tiết tăng nặng mới và có khung hình phạt nặng hơn của Điều luật tương ứng qui định tại Bộ luật hình sự năm 2015, đối với hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 để có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo H. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét thái độ của bị cáo, sau khi phạm tội đã thật thà khai báo hành vi phạm tội của mình, số tiền bị cáo ghi số lô, số đề để bán cho anh H, anh L và một số người đi đường không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, được qui định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đàm Trọng Hvà Nguyễn Văn L là người đã mua số lô, số đề của bị cáo Vũ Thị H trong đó H mua 3.000.000đ và L mua 2.400.000đ. Trong quá trình điều tra xác định H và L chưa có tiền sự và tiền án về tội: Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc và Gá bạc. Theo qui định nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 26/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số Điều theo luật số 12/2017/QH 14, thì hành vi mua số lô, số đề trái phép của anh H và anh L chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan công an huyện H đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với H và L về hành vi đánh bạc là phù hợp qui định của pháp luật

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ 02 bút bi mực mầu xanh nhãn hiệu Thiên Long; 01 chiếc kéo cán nhựa mầu vàng; Tịch thu xung công quĩ nhà nước số tiền 5.400.000đ mà bị cáo H đã bán số lô, số đề cho Đàm Trọng H và Nguyễn Văn L

- Đối với hai tờ ghi số lô, số đề đã thu giữ của Đàm Trọng H và Nguyễn Văn L, 01 tờ kết quả sổ xố ghi các số lô, số đề thu giữ của bị cáo H, đây là các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án, để lưu trong hồ sơ là đúng qui định pháp luật

- Đối với chiếc điện thoại điện di động nhãn hiệu ASUS Zenpone mầu trắng, thu giữ của bị cáo H trong quá trình điều tra, bị cáo H không dùng điện thoại để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội của mình, nên Cơ quan điều tra công an huyện H đã trả lại cho bị cáo H là phù hợp qui định của pháp luật

- Đối với số tiền 1.400.000đ thu giữ của bị cáo H. Trong quá trình điều tra bị cáo H khai nhận đã bán số lô, số đề trái phép cho một số người đi đường ngày 11/12/2017. Vì vậy Cơ quan điều tra công an huyện H đã tách phần tài liệu liên quan đến việc mua bán số lô, số đề và 1.400.000đ để tiếp tục điều tra xử lý theo qui định của pháp luật

Về án phí: Bị cáo Vũ Thị H, phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố : Bị cáo Vũ Thị H phạm tội: “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; Điều 30; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999

Phạt tiền: Vũ Thị H 8.000.000đ (tám triệu đồng) sung quĩ Nhà nước

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu huỷ 02 bút bi mực mầu xanh nhãn hiệu Thiên Long; 01 chiếc kéo cán nhựa mầu vàng

- Tịch thu xung công quĩ nhà nước số tiền 5.400.000đ mà bị cáo Huệ đã bán số lô, số đề cho Đàm Trọng H và Nguyễn Văn L, theo, như biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H và giấy uỷ nhiệm chi ngày 26/01/2018

3.Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ