- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trôm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Khắc Cẩn
Các hội thẩm nhân dân:
Ông:
Lê Xuân Khanh
Ông:
Nguyễn Đình Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đồng - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2018 đối với:
Bị cáo: Võ Văn T - Sinh ngày: 03/9/1989; nơi cư trú: Tổ Dân Phố 3, thị trấn Vũ Q, huyện V, Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn T và bà Lê Thị S ; vợ con: Chưa có (Hiện đang sống chung như vợ chồng với chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1976 ở tổ dân phố 3, thị trấn Vũ Q , huyện V , tỉnh Hà Tĩnh và có hai con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/01/ 2017 bị Công an thị trấn Vũ Q huyện V xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, T chưa nộp phạt; ngày 05/01/2017 bị Công an thị trấn Vũ Q, huyện V xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, T đã nộp phạt xong; ngày 07/4/2017 bị Công an thị trấn Vũ Q, huyện V xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, T mới nộp phạt được 1.000.000 đồng.
Nhân thân: Ngày 29/7/2010, bị Công an huyện Vũ Q xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, T đã nộp phạt xong vào ngày 29/7/2010; ngày 11/7/2016, bị Công an huyện Vũ Q xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, T đã nộp phạt xong ngày 12/07/2016; ngày 31/7/2017, bị Chủ tịch UBND thị trấn Vũ Q , huyện V ra Quyết định số 87/QĐ về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 06 tháng về hành vi “Đánh nhau” theo Nghị định 111/2013 của Chính phủ.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2017 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Nguyễn Thế T – Sinh năm: 1972
Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V , tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt không lý do).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Lê Thị Thu H – Sinh năm: 1976
Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt tại phiên tòa)
+ Anh Võ Văn H – Sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Xóm 1, xã H, huyện H, tỉnh N (vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/12/2017 trên đường đi ăn tối tại nhà anh Nguyễn Đình L ở tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V về, Võ Văn T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc máy hàn và chiếc máy cắt của anh Nguyễn Thế T ở tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V. Theo ý định, T điều khiển xe máy Wave màu trắng BKS 37N1-672.67 đến trước khu vực lán dựng tạm trên nền nhà đang xây của anh T, dựng xe máy ở phía ngoài, đi bộ vào lán lấy trộm chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh và chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam đi ra đặt lên xe máy và đưa đến cất dấu tại bụi cây ở thôn 1, xã S, huyện V rồi đi về nhà mình. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh T phát hiện bị mất chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh và chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam nên đã trình báo công an và được cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V (viết tắt là CQĐT) xác định Võ Văn T là người lấy trộm.
Theo biên bản định giá tài sản số 11/BBĐGTS-UBND ngày 08/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện V kết luận: Chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh trị giá 450.000 đồng, chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam trị giá 2.300.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 2.750.000 đồng.
Quá trình điều tra, CQĐT đã thu giữ tại bụi cây ở thôn 1 xã S, huyện V một chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam và một máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh; thu giữ của chị Lê Thị Thu H một chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, màu trắng, BKS 37N1- 67.267. Hiện CQĐT đã trả lại cho anh T chiếc máy hàn và chiếc máy cắt nói trên; trả lại cho chị H chiếc xe máy Wave, màu trắng, BKS 37N1- 672.67. Sau khi nhận lại tài sản của mình anh T và chị H không yêu cầu gì thêm.
Đối với chị Lê Thị Thu H là người cho bị cáo mượn chiếc xe máy Wave, màu trắng, BKS 37N1- 67.267 nhưng không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan CSĐT không xử lý.
Tại cáo trạng số 02/CT-VKS-VQ ngày 07/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa:
Bị cáo T thừa nhận hành vi lấy trộm chiếc máy hàn và chiếc máy cắt của anh Nguyễn Thế T như đã nêu trên và khai: Trước thời điểm phạm tội, bị cáo đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 05 lần về các hành vi đánh bạc, trộm cắp tài sản, xâm hại sức khỏe của người khác và đánh nhau. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi đánh nhau và hiện chưa thực hiện nộp phạt tiền đối với một số quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo biết anh T để máy cắt và máy hàn ở trong lán dựng tạm là do ngày hôm đó, bị cáo cùng một số thợ xây nhà cho anh T đến chiều tối mới nghỉ; mục đích bị cáo lấy trộm tài sản là để khi có cơ hội bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm một mình, không có ai tham gia cùng; chiếc xe máy Wave, màu trắng, BKS 37N1- 672.67 là tài sản riêng của chị Lê Thị Thu H, khi cho bị cáo mượn chị H không biết bị cáo sử dụng đi lấy trộm tài sản.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chị Lê Thị Thu H khai: Chiếc xe máy Wave, màu trắng, BKS 37N1- 672.67 là tài sản riêng của chị và khi cho Võ Văn T mượn chị không biết T sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Nay chị đã được trả lại đúng chiếc xe máy cho T mượn nên không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Tuyên bố Võ Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Võ Văn T từ 09 đến 12 tháng tù tính từ ngày 08/12/2017; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung; buộc Võ Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, đương sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đưa ra tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, Võ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xác định được vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/12/2017, tại lán dựng tạm trên nền nhà đang xây dựng ở tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, Võ Văn T đã lén lút lấy trộm một chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam và một chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh của anh Nguyễn Thế T rồi đưa đến cất dấu tại bụi cây ở thôn 1, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Tổng trị giá chiếc máy hàn và chiếc máy cắt T lấy trộm nói trên là 2.750.000đ (hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Do đó, Võ Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Đối với chị Lê Thị Thu H cho T mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, màu trắng, BKS 37N1- 672.67 đi nhưng không biết T sử dụng mục đích phạm tội nên CQĐT không xem xét trách nhiệm là đúng pháp luật.
Xét đây là vụ án có tính ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần lên một mức án đủ nghiêm tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo.
Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xét bị cáo có nhân thân xấu đã có 05 lần bị xử xử phạt vi phạm hành chính và phạm tội trong thời gian đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch UBND thị trấn V về hành vi “Đánh nhau”. Trong 05 lần bị xử phạt vi phạm hành chính có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC, ngày 29/7/2010 của Công an huyện V xử phạt Thế 500.000 đồng về hành vi “ Đánh bạc”, Thế đã nộp phạt xong ngày 29/7/2010 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC, ngày 11/7/2016 của Công an huyện V xử phạt T 1.000.000 đồng về hành vi “ Trộm cắp tài sản”, T đã nộp phạt xong ngày 12/7/2016 nên đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Còn Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐXP, ngày 03/01/2017 của Công an thị trấn V xử phạt T 500.000 đồng về hành vi “ Đánh nhau”, T chưa nộp phạt; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐXP, ngày 05/01/2017 của Công an thị trấn V xử phạt T 1.000.000 đồng về hành vi “ Đánh nhau”, T đã nộp phạt và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐXP, ngày 07/4/2017 của Chủ tịch UBND thị trấn V xử phạt T 2.000.000 đồng về hành vi “ Xâm hại sức khỏe người khác”, T mới nộp phạt được 1.000.000 đồng thì chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tại phiên tòa, đại diện Viện K đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng qua xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi trả cho bị hại nên xử phạt bị cáo mức án 07 (bảy) tháng tù cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với chiếc máy hàn nhãn hiệu Boss Inverter Welder, màu cam; chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch QWS7-100, màu xanh và chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, màu trắng, BKS 37N1- 67.267, CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Thế T, chị Lê Thị Thu H và anh Võ Văn H không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm h và Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Võ Văn T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/12/2017).
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Võ Văn T nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát; - Công an; - Trại tạm giam; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS-VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Đình Lý Lê Xuân Khanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nghiêm Khắc Cẩn Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Nghiêm Khắc Cẩn |