vanban.org

Bản án 02/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Tuyên án 24/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Anh K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Anh K 09 (chín) tháng tù.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Ngô Nguyễn Anh K. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tuyên tịch thu tiêu hủy, các vật c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Anh K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Anh K 09 (chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN CANH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 02/2018/HS-ST
Ngày: 24-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Lợi

Ông Nguyễn Văn Kỳ

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Sen là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2018/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:

Ngô Nguyễn Anh K; tên gọi khác: không; sinh ngày 14/12/1999 tại thị trấn V, huyện V, tỉnh B. Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm1977; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giam ngày 08/01/2018 theo lệnh truy nã, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Ngô Văn T, sinh năm 1977 là cha của bị cáo.

Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1977 là mẹ bị cáo.

Trú tại: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh B đều có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Tôn Nữ Kim Y, là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Thị L, sinh năm 1975

Trú tại: Làng H, thị trấn V, huyện V, tỉnh B có mặt.

Ông Trần Đình P (Thích Nhuận T), sinh năm 1985

Trú tại: Thôn T, Thị trấn V, huyện V, tỉnh B. Có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt ngày 23/4/2018.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Văn L, sinh năm 1965

Trú tại: Làng H, thị trấn V, huyện V, tỉnh B có mặt.

Anh Phan Thế H, sinh năm 1996

Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1998

Đồng trú tại: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh B đều có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Ông Ka So D, sinh năm 1941

Bà Trần Thị L, sinh năm 1950

Đồng trú tại: Làng S, Thị Trấn V, huyện V, tỉnh B đều có mặt.

Anh Mang A, sinh năm: 1985

Trú tại: Làng H, xã C, huyện V, tỉnh B, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/11/2017, Ngô Nguyễn Anh K vào Trung tâm y tế huyện V và đến nhà xe lấy một cái mũ bảo hiểm rồi vào một phòng không có bệnh nhân tại Khoa nội nhi ngủ. Đến khoảng 02 giờ ngày 14/11/2017, Kỳ đi lên cầu thang vào Phòng 06 Khoa nội nhi, K mở cửa đi vào phòng thì phát hiện bà Lê Thị L, đang ôm con gái tên Trần Thị Quỳnh N nằm ngủ trên giường, túi áo khoác của chị L lòi ra chiếc ví màu xanh, K liền lấy chiếc ví rồi tiếp tục đi xuống phòng mà K đã ngủ trước đó và mở chiếc ví ra kiểm tra thì thấy có một hộp màu hồng bên trong đựng 04 nhẫn vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 04 chỉ; một nhẫn vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 02 chỉ; một nhẫn vàng (mặt có đính đá màu xanh), nhãn hiệu M. Th, loại 18K, trọng lượng 0,7 chỉ; một lắc vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 02 chỉ và 2.300.000 đồng tiền mặt. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 14/11/2017, K đến tiệm cửa sắt của Phan Thế H chơi thì gặp Nguyễn Huy H, K hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 77G1 - 270.97 của H1 nói chở H đi uống cà phê, H1 đồng ý. Sau khi uống cà phê xong, K rủ Hoàng đi Diêu T, Tuy Ph để mua đồ cho bạn gái và được H đồng ý. Khi đến gần Ngã ba Diêu T thuộc thị trấn Diêu T, K cho H xuống xe chờ còn K một mình đi đến một tiệm vàng tại Ngã ba Diêu T để bán vàng nhưng không thực hiện vì sợ bị lộ. K quay lại đón H rồi cả hai cùng đi về lại thị trấn V. Khi đến Cổng chào thuộc thị trấn V phát hiện có Công an, K điều khiển xe bỏ chạy thì bị Công an truy đuổi kịp và đưa về Công an làm việc. Tại Cơ quan Công an K đã khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đồng thời giao nộp toàn bộ số vàng và 500.000 đồng. Trong thời gian được Cơ quan cảnh sát điều tra cho tại ngoại chờ xử lý thì K đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo lệnh truy nã.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-VC ngày 01/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh B truy tố bị cáo Ngô Nguyễn Anh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Anh K mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về dân sự: Bị cáo đã trả toàn bộ tài sản cho các bị hại là chị L và chùa Pháp A. Trước phiên tòa các bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng không xem xét.

Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Tôn Nữ Kim Y bào chữa cho bị cáo Ngô Nguyễn Anh K trình bày: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo có thời gian thử thách.

Ý kiến của những người bị hại: Nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên Tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Người bào chữa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Để có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 02 giờ ngày 14/11/2017, K có hành vi lén lút vào phòng 06 (khoa nội nhi), của Trung tâm y tế huyện V, tỉnh B lấy trộm tài sản của bà Lê Thị L. Tài sản trộm cắp gồm: 04 nhẫn vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 04 chỉ; một nhẫn vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 02 chỉ; một nhẫn vàng (mặt có đính đá màu xanh), nhãn hiệu M. Th, loại 18K, trọng lượng 0,7 chỉ; một lắc vàng, hiệu Mỹ Linh, loại 24K, trọng lượng 02 chỉ và 2.300.000 đồng tiền mặt.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, tỉnh B số: 12/KL - HĐ ngày 07/12/2017 xác định tổng giá trị số vàng trong vụ trộm là 30.220.000 đồng.

Ngoài vụ trộm trên, trước đó vào sáng ngày 29/9/2017 K đột nhập vào chủa Pháp Âm ở thôn T, thị trấn V, V, B phá tủ công đức lấy trộm 50.000đ.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt được các bị hại là 32.570.000đ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra, cần phải xử phạt bị cáo ở với mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song, xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và xét xử; Tình tiết tăng nặng: Không; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội ở độ tuổi vị thành niên, tài sản được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 “ thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng, đang ở với gia đình thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

Trong vụ án này: Anh Phan Thế H1 là người cho K mượn chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 77G1-270.97 và Nguyễn Huy H là người được K rủ đi xuống thị trấn Diêu T . Nhưng anh H1 và anh H đều không biết K trộm cắp tài sản và tìm cách tiêu thụ tài sản. Các cơ quan chức năng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1 và H là có cơ sở nên Tòa không xét.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại chị L , chùa Pháp  . Tại phiên tòa các bị hại không yêu cầu gì nên Tòa không xét.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng gồm: 3 gói thuốc lá (trong đó 01 gói thuốc Zet đã mở chỉ còn 01 điếu và 02 gói thuốc nhựa đen 01gói đã hút hết, 01 gói còn 13 điếu);01 ống hút thuốc được làm từ vỏ chai nước ngọt bằng nhựa; 04 bật lửa gồm: 01 màu đỏ, 02 màu trắng và 01màu xanh; 02 cây kéo cùng loại, có cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, nhãn hiệu mornigSur; 01túi xách loại một quai, màu đen, nhãn hiệu Ford; 01 chai nhựa màu trắng (không nước); 01 mũ bảo bảo hiểm; 03 khẩu trang y tế màu đen; 01 bì nilong Zipper khóa vuốt bên trong có chứa 14,523g. Là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng, xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Tôn Nữ Kim Y bào chữa cho bị cáo Ngô Nguyễn Anh K trình bày: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo để có thời gian thử thách là chưa tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo vì thuộc diện hộ nghèo có đơn xin miễm giảm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2, Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Anh K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Anh K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 08/01/2018.

2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Ngô Nguyễn Anh K.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tuyên tịch thu tiêu hủy, các vật chứng sau vì không còn giá trị sử dụng gồm: 03 gói thuốc lá (trong đó 01 gói thuốc Zet đã mở chỉ còn 01 điếu và 02 gói thuốc nhựa đen 01gói đã hút hết, 01 gói còn 13 điếu); 01 ống hút thuốc được làm từ vỏ chai nước ngọt bằng nhựa; 04 bật lửa gồm: 01 màu đỏ, 02 màu trắng và 01 màu xanh; 02 cây kéo cùng loại, có cán nhựa màu vàng, lưỡi màu trắng, nhãn hiệu mornigSur; 01túi xách loại một quai, màu đen, nhãn hiệu Ford; 01 chai nhựa màu trắng (không nước); 01 mũ bảo bảo hiểm; 03 khẩu trang y tế màu đen; 01 bì nilon Zipper khóa vuốt bên trong có chứa 14,523g.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ