vanban.org

Bản án 02/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 09/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sử a đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sử a đổi, bổ sung năm 2017. Phạt bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN VĂN H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HS-ST.
Ngày: 09 – 3 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Quyết Chiến.

Ông Thạch Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bả o – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chi Điều - Kiểm sát viên.

́

Ngày 09 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H; tên gọi khác: S; sinh năm 1979; nơi sinh: xã T, huyê ̣n D, tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không có; chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thi ̣ B, sinh năm 1946 (đã chết); có con là Trần Thi ̣ Bé Q , sinh năm 2000; tiền án: 02, ngày 06/7/2011 bị Tòa án nhân dân huyê ̣n D, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 04 năm tù về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” , ngày 14/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và tổng hợp hình phạt tù còn lại của bản án của Tòa án nhân dân huyện D là 02 năm 05 tháng 09 ngày tù và bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 11 tháng 09 ngày tù; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 11 năm 2017 cho đến nay. (có mặt).

- Bị hại: Ông Vương Văn H; sinh năm 1941; trú tại: ấp X, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Hoàng T; sinh năm 1976; trú tại: ấp T, thị trấn X, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

2. Ông Huỳnh Chí T; sinh năm 1977; trú tại: ấp L, thị trấn X, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Dương Thị Hồng L; sinh năm 1980; Trú tại: đường Q, khóm x, phường x, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 09/7/2017, Trần Văn H thuê xe môtô (xe honđa ôm) chở H đến địa bàn huyện Long Phú để t ìm tài sản trộm cắp, khi đến khu vực x, thị trấn P, huyê ̣n P, tỉnh Sóc Trăng (gần Bê ̣nh viê ̣n P) lúc này khoảng 23 giờ thi

̀ H xuống xe và trả tiền xe . Sau đó, H đi bô ̣ khoảng 500m thi phát hiê ̣n nhà của bi ̣

̀ hại Vương Văn H, H đi qua cây cầu phia trướ c nhà của ông H và đi vòng qua bên

́

hông nhà thi phát hiê ̣n p hía sau nhà của ông H có một cánh cửa nên H dùng bàn

̀ tay phải để mở chốt cử a ra , khi mở được cánh cử a thì H bướ c vào trong nhà do nhà có mở đèn nên H nhìn thấy 01 chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 83PT-209.58 đang dựng ở nhà sau, trên xe có gắn sẵn chia khóa xe nên H dẫn chiếc xe ra ngoài

̀

bằng cử a sau, khi H dẫn xe qua khỏi cây cầu trướ c nhà của ông H thì H nổ máy xe và điều khiển xe cha ̣y về thành phố Sóc Trăng , H mở cốp xe phát hiê ̣n bên trong có 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy chứ ng minh nhân dân của bi ̣ ha ̣i Vương Văn H. Sau đó, H tiếp tu ̣c sử du ̣ng chiếc xe biển kiểm soát 83PT-209.58 được vài ngày thì H điều khiển xe đến quán cà phê của bà Dương Thi ̣ Hồng L tại đường Q, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng để uống cà phê, khi gă ̣p bà L thi H nói do cha H bị

̀ bê ̣nh cần tiền nên nhờ bà L tim ngườ i cầm xe giùm thi bà L gọi điê ̣n thoa ̣i cho ông

̀

̀ Huỳnh Chí T, ông T đến quán cà phê của bà L để gă ̣p H, tại đây H nói với ông T do cha H bị bệnh cần tiền và đưa cho ông T 01 giấy đăng ký xe , 01 giấy chứ ng minh nhân dân tên Vương Văn H nên ông T đồng ý cầm chiếc xe mà H trô ̣m cắp được nêu trên vớ i giá là 5.000.000 đồng thì H đưa la ̣i cho ông T số tiền 500.000 đồng để trả tiền lai, bà L và ông T không biết chiếc xe nêu trên do H trô ̣̃

m cắp mà có. Sau khi ông Thành nhâ ̣n cầm chiếc xe thì ông T mang chiếc xe và các giấy tờ nêu trên đến cầm ta ̣i tiê ̣m cầm đồ của ông Nguyễn Hoàng T vớ i giá là 5.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau, H đến tiệm sửa xe của ông T gă ̣p ông T mượn thêm số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó khoảng 02 tháng, H không đến trả tiền lãi cho ông T do không liên la ̣c được vớ i H nên ông T đa trĩ nh báo vớ i Công an và chuô ̣c la ̣i

̀

chiếc xe cùng các giấy tờ nêu trên g iao nô ̣p cho Công an , đến ngày 23/11/2017 thì bắt được Trần Văn H.

Bản kết luận định giá tài sản số: 54KL.HĐĐGTS ngày 22/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Phú kết luận: Giá trị một chiếc xe gắn máy nhan hiê ̣̃

u LIFAN, màu sơn đỏ-đen, số loa ̣i 50R, biển số 83PT-209.58, số khung B 6UME1002410, số Máy MBL1SE00241, dung tich 49 (theo

́ nguyên giá la13.500̀

.000đồng), giá trị sử dụng còn lại60%, thành tiền8.100.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo , bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luâ ̣n của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá nêu trên.

Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSLP ngày 01/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) về tội “Trô ̣m cắp tài sản ” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sử a đổi , bổ sung năm 2009 (sau đây go ̣i tắt là Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm

̀ 1999).

Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên. Về trách nhiê ̣m dân sự: Thống nhất hoàn trả cho ông Huỳnh Chí T số tiền 6.000.000 đồng.

Bị hại Vương Văn H đề nghị Hội đồng xét xử : Về trách nhiê ̣m hinh sự xét

̀ xử bi ̣ cáo Trần Văn H theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t . Về trách nhiê ̣m dân sự : Đa nhậñ lại đầy đủ các tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Huỳnh Chí T yêu

cầu bi ̣ cáo Trần Văn H hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiể m sát giữ quyền công tố ta ̣i phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) đủ yếu tố cấu thành tội “Trô ̣m cắp tài sản ”. Do muốn có tiền để thỏa man nhu cẫ

̀u tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhâ ̣p vào nhà của bi ̣ ha ̣i Vương Văn H trô ̣m cắp tài sản là 01 chiếc xe gắn máy biển số 83PT-209.58 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.100.000 đồng. Trên cơ sở đó , đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản ” và áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 7, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sử a đổi , bổ sung năm 2017 (sau đây go ̣i tắt là Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015) xử phạt bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù . Về trách nhiê ̣m dân sự : áp dụng Điều 589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 ghi nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n của bi ̣ cáo H hoàn trả cho ông Huỳnh Chí T số tiền 6.000.000 đồng. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Trong quá trinh điều tra , Cơ quan điều

̀ tra đa thu hỗ

̀i và xử lý trả la ̣i cho bi ̣ ha ̣i Vương Văn H 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiê ̣u LIFAN, màu sơn đỏ -đen, số loa ̣i 50R, biển số 83PT-209.58, số khung B6UME1002410, số máy MBL 1SE00241, dung tich 49; 01 giấy chứ ng nhâ ̣n

́ đăng ký xe môtô số 019366 tên Vương Văn H; 01 giấy chứ ng minh nhân dân tên Vương Văn H nên không đă ̣t ra xem xét.

Lờ i nói sau cùng của bi ̣ cáo Trần Văn H: Bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của bi ̣ ha ̣i mà bi ̣ cáo đa thự̃

c hiê ̣n là vi pha ̣m pháp luâ ̣t , bị cáo rất hối hâ ̣n và xin Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh phạt.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃

được tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh như sau:

Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra huyê ̣n Long Phú , Điều tra Viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Long Phú , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ngườ i nào có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mă ̣t người làm chứng và họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt . Xét sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào các điều 292, 293 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) khai nhâ ̣n: Do muốn có tiền để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân nên vào khoảng

23 giờ ngày 09/7/2017, tại nhà của ông Vương Văn H thuô ̣c ấp x, thị trấn P, huyê ̣n P, tỉnh Sóc Trăng, H đa mô ̣̃

t minh lén lút mở cửa sau nhà của ông H để trộm cắp tài sản là 01

̀ chiếc xe gắn máy nhan hiê ̣̃

u LIFAN , màu sơn đỏ-đen, số loa ̣i 50R, biển kiểm soát 83PT-209.58, số khung B6UME1002410, số máy MBL 1SE00241, dung tich 49.

́ Sau đó, H sử du ̣ng chiếc xe trô ̣m cắp được nêu trên vài ngày thi mang đi cầm cho

̀ ông Huỳnh Chi T vớ i giá là 5.000.000 đồng và khoảng 10 ngày sau H mượn thêm

́ của ông T số tiền 1.000.000 đồng.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận

thấy, lời thừ a nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngườ i bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án , người làm chứng, phù hợp vớ i các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiê ̣m điều tra, biên bản thu giữ vật chứng , kết luâ ̣n đi ̣nh giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vu ̣ án.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 8.100.000 đồng mà bi ̣ cáo Trần Văn H đã thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số : 12/2011/HSST ngày 06/7/2011 của Tòa án nhân dân huyê ̣n D bị cáo H đa bi ̣̃ áp dụng tình tiết “ Tái phạm”, trong thờ i gian chấp hành án đối với bản án nêu trên ta ̣i tra ̣i giam Cái Tàu thi bi ̣ c áo đã trốn khỏi nơi giam

̀ nên bị Tòa án nhân dân huyện M xét xử và tổng hợp hinh pha ̣t tù còn la ̣i của bản

̀ án của Tòa án nhân dân huyện D, đến ngày 23/7/2016 thì bị cáo chấ p hành án xong, tính đến ngày bị cáo phạm tội trô ̣m cắp tài sản của bi ̣ hại Vương Văn H là ngày 09/7/2017 thì chưa được xóa án tích nên lần pha ̣m tô ̣i này của bi ̣ cáo H là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Mă ̣t khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chi ̣u trách nhiệm hình sự nên hành vi của bi ̣ cáo đa thự̃

c hiê ̣n đa cẫ ́u thành tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, cáo trạng số: 01/CT-VKSLP ngày 01/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bi ̣ cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tô ̣i của bi ̣ cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã h ội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiê ̣n và thờ i gian cải tạo , răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự đối vớ i bi ̣ cáo nhâ ̣n thấy

:

̀

̀

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Đối với bà Dương Thị Hồng L là người giới thiệu cho bị cáo H cầm chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 83PT-209.58; ông Huỳnh Chi T và ông Nguyễn

́ Hoàng T là người nhận cầm chiếc xe nêu trên nhưng bà Dương Thi ̣ Hồng L, Huỳnh Chí T và ông Nguyễn Hoàng T không biết chiếc xe là do H trô ̣m cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Long Phú không truy cứ u trách nhiê ̣m hinh sự đối vớ i bà Dương Thị Hồng L , ông Huỳnh Chi T và ông Nguyễn

̀

́ Hoàng T là đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiê ̣m dân sự:

Ngườ i bi ̣ ha ̣i Vương Văn H không yêu cầu bi ̣ cáo Trần Văn H bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i nên Hô ̣i đồng xét xử không đă ̣t ra xem xét.

Tại phiên tòa, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Huỳnh Chí T và bị cáo Trần Văn H thống nhất thỏa thuâ ̣n bi ̣ cáo H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T số tiền là 6.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận của bị cáo H và ông T là tự nguyên nên căn cứ khoản 1 Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015; các điều 584,

̀ 585 và 589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trinh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra

̀

Công an huyê ̣n Long Phú đa xữ ̉ lý trả lại cho người bị hại Vương Văn H xong nên Hô ̣i đồng xét xử không đă ̣t ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a và điể m c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn H (Tên gọi khác: S) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phi dân sự sơ thẩm.

́

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sử a đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sử a đổi, bổ sung năm 2017. Phạt bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm

̀ 2015 được sử a đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, 585 và 589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 ghi nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n của bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) hoàn trả cho ông Huỳnh Chí T số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: S) chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại, ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ