- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T (Th) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HS-ST Ngày 05 - 01- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tùng.
Ông Phạm Hồng Sơn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2018; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2017/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2017/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Văn T (tên gọi khác: Th), sinh năm: 1989 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đặng, sinh năm: 1964 và bà Trần Thị Hơn, sinh năm: 1965;
Tiền án: Bản án số 09/2013/HSST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xử phạt Trần Văn Tiếp 20 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 26/9/2017, chuyển tạm giam ngày 28/9/2017 (có mặt).
- Bị hại: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm: 1963 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người làm chứng:
1/Ông Huỳnh Quốc D, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: 33 ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2/Ông Trịnh Thái T, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2017, Nguyễn Việt H (tên gọi khác: H) điều khiển xe mô tô biển số 72N1-5588 chở Trần Văn T đi từ xã L, huyện Đ đến khu vực xã T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực ấp P, xã T, huyện L thì phát hiện chiếc xe mô tô biển số 72S1-3694 của ông Huỳnh Văn S đang dựng bên lề đường không người trông coi nên cả hai quyết định lấy trộm. Lúc này, H dừng xe lại ngồi trên xe cảnh giới, T đi đến nơi dựng xe dùng đoản bẻ ổ khóa xe, khi đã mở được khóa T dẫn xe đi một đoạn khoảng 10m để khỏi bị phát hiện rồi đạp nổ máy xe chạy đi, T điều khiển xe mô tô vừa trộm được chạy trước, H điều khiển xe của mình chạy theo sau. Một lúc sau, phát hiện xe bị mất nên ông Sỹ gọi điện thoại cho con trai là Huỳnh Quốc D biết sự việc và kêu D đi tìm. Anh D chạy bộ ra ngoài đường đi tìm thì phát hiện T đang điều khiển xe mô tô của ông S nên liền chặn xe lại và cùng người dân bắt giữ T cùng tang vật và trình báo cơ quan công an, riêng H điều khiển xe mô tô chạy thoát được. Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. (Bút lục số: 61-73)
Qua điều tra, T khai nhận cùng với Nguyễn Việt H còn thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô khác trên địa bàn huyện Long Điền và 01 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện Đất Đỏ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra thông báo truy tìm bị hại và thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ để xử lý theo quy định.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 xe mô tô biển số 72S1-3694, đã trao trả lại cho ông Huỳnh Văn S là chủ sở hữu.
- 11 đoản tự chế nhiều kích thước khác nhau (dùng để bẻ khóa xe mô tô) và 01 khóa số 8 dùng để mở đoản. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý. (Bút lục số 17-19, 35).
Tại biên bản định giá và kết luận định giá tài sản ngày 27/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Long Điền kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen - bạc, SK: C637Y026617, SM: 5C63-026617, biển kiểm soát: 72S1-3694, đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000đ. (Bút lục số: 32-33).
Về trách nhiệm dân sự: ông Huỳnh Văn S đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm.
Đối với Nguyễn Việt H hiện nay đã bỏ trốn, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã ra thông báo truy tìm, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Ngày 04/10/2017, Trần Văn T bị cơ quan CSĐT Công an huyện Đất Đỏ khởi tố bị can về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 250 BLHS.
Tại bản Cáo trạng số 01/QĐ-KSĐT ngày 09/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 12 đến 16 tháng tù, đồng thời tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 27/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt bị cáo T từ 20 đến 24 tháng tù. Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu tiêu hủy 11 đoản tự chế nhiều kích thược khác nhau (dùng để bẻ khóa xe mô tô) và 01 khóa số 8 dùng để mở đoản là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2017, Trần Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 72S1-3694 trị giá 6.000.000đ của ông Huỳnh Văn S tại khu vực đường số 11 thuộc ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Xét thấy, bị cáo có sức khỏe tốt, có khả năng lao động nhưng không chịu làm ăn lương thiện, lười lao động lại muốn hưởng thụ nhanh bằng thành quả, tài sản của người khác. Bị cáo T từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, có quá trình cải tạo, không lấy làm bài học răn đe bản thân, chấp hành hình phạt không bao lâu, bị cáo quay lại con đường phạm tội, cho thấy bị cáo khó hoàn lương nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm và chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần tuyên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo đang chấp hành hình phạt 08 tháng tù của bản án số 27/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu tiêu hủy 11 đoản tự chế nhiều kích thược khác nhau (dùng để bẻ khóa xe mô tô) và 01 khóa số 8 dùng để mở đoản là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T (Th) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt:
Trần Văn T 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 08 tháng tù theo bản án số 27/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2017.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 11 đoản tự chế nhiều kích thước khác nhau (dùng để bẻ khóa xe mô tô) và 01 khóa số 8 dùng để mở đoản. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 14/BB-THA ngày 06/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền).
Về án phí: Áp dụng Đi ều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hinh
̀ sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (05/01/2018) bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 27 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - Công an huyện Long Điền; - Chi cục huyện Long Điền; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mai |