- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 01 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Truy tố các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có lý lịch nêu trên ra trước Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS của Nước cộng hòa XHCN V…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THỦY TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HSST Ngày: 13/01//2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Đình Tài
2. Ông Nguyễn Ngọc Tính
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ tham gia phiên toà: Bà: Bùi Thị Bích – kiểm sát viên.
Ngày 13/01/2024 tại hội trường TAND huyện Cẩm Thủy. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/HSST, ngày 04/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 10/12/2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 26/2024/QĐST-HS ngày 25/12/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Cao Văn Tr- Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1992 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Giang Trung, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Văn Sơn sinh năm 1966 và con bà: Cao Thị Ng sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
2. Họ và tên: Trương Hồng Q- Sinh ngày 28 tháng 10 năm 1992 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Giang Hồng 1, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Huynh (Đã chết) và con bà: H Thị Thao sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
3. Họ và tên: Trương Quang H- Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1993 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Giang Hồng 1, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Hsinh năm1968 và con bà: Phạm Thị Liên sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 24/3/2023 bị Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố H Nội tuyên phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Giữ người trái pháp luật. Bị cáo chấp Hnh xong ngày 24/5/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
4. Họ và tên: H Văn H- Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1996 tại xã Điền Lư, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Chiềng Lẫm, xã Điền Lư, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: H Văn Mầu sinh năm 1963 và con bà: Phạm Thị H sinh năm 1965; vợ (đã ly hôn), có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/5/2015 bị Toà án nhân dân huyện Bá Thước xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo đã chấp Hnh xong.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
5. Họ và tên: H Văn B- Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1996 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: H Ngọc Xuyến (Đã chết) và con bà: Phạm Thị Chanh sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
6. Họ và tên: Nguyễn Đình Đ- Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1994 tại xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Thuần Lương, xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình Hsinh năm 1969 và con bà: Nguyễn Thị Thuỷ sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
7. Họ và tên: Cao Văn T- Sinh ngày 22 tháng 7 năm 1995 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Giang Trung, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Văn Ngọc sinh năm 1971 và con bà: Cao Thị Dự sinh năm 1974; vợ: Bùi Thị H sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
8. Họ và tên: Trương Ngọc T- Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1993 tại xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Trâm Lụt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Ngọc Chanh sinh năm 1972 và con bà: Nguyễn Thị Thuý sinh năm 1973; vợ (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/7/2024, tạm giam từ ngày 25/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người làm chứng:
Bà Cao Thị Ng, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Giang Trung, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá; Có mặt;
Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá; Có mặt;
Chị Bùi Thị H, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn Giang Trung, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt;
Anh H Văn D, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy,tỉnh Thanh Hóa;
Anh Lê Bá Tr, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 3, xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa;
Chị Bùi Thị Thuyên, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Trâm Lụt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
Đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 26/6/2024, Cao Văn Trđến quán bi-a của anh Trịnh Văn H thì gặp H Văn Hùng, Nguyễn Đình Đông, Lê Bá Tr, H Văn D đang ngồi uống bia nên Trngồi uống bia cùng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, trong lúc đang uống bia Trrủ Hvà Đgóp tiền mua ma tuý để sử dụng nhưng Hvà Đkhông có tiền nên không nói gì. Lúc nàyD và Tr có việc nên đi về trước, Tr nói vớiD chuyển khoản cho H400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để tiêu sài cá nhân và trả tiền uống bia. Nhưng do không sử dụng tài khoản ngân Hng nên Hnói vớiD chuyển tiền đến tài khoản của Tr400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi có tiền chuyển đến tài khoản của Trí, Hđã đồng ý góp số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) đó để mua ma túy sử dụng.
Do không biết chỗ mua ma tuý nên Trđã gọi điện thoại cho Trương Hồng Qđể rủ Qđi mua ma tuý nhưng Qkhông nghe máy nên Trđã gọi điện thoại cho Trương Quang HnhờHđến nhà gọi Quân,Hđến nhà thấy Qđang nằm ngủ thì gọi Qdậy và gọi lại cho Trnói Qđã dậy. Lúc này Trđi đến nhà Qvà rủ Qsử dụng ma tuý. Qđồng ý và gọi điện thoại cho Trương Ngọc Thỏi mua ma tuý, Tđồng ý và BQchuyển tiền trước đến tài khoản ngân Hng cho Tuân. Qđã đọc số tài khoản ngân Hng cho Trchuyển 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 8810011993 mang tên “TRUONG NGOC TUAN” mở tại ngân Hng MB bank. Trnói Qlấy xe mô tô biển khiểm soát 36L1-160.28, nhãn hiệu YAMAHA của Trđể đi lấy ma tuý. Qđồng ý và rủHcùng đi mua ma tuý. Trên đường đi, do xe máy của Trgần hết xăng, nênHđã gọi điện thoại cho Cao Văn Tđể rủ Tgóp tiền mua ma tuý sử dụng. Tđồng ý và đã nhờ anh Trịnh Văn H, Sinh năm: 1983 trú tại thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá chuyển đến số tài khoản ngân Hng củaH200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).Hđã chuyển 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đến tài khoản của Trương Ngọc Tđể mua ma tuý, còn 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để đổ xăng xe máy. Trcũng chuyển thêm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến tài khoản của Trương Ngọc Tđể mua ma tuý. Khi QvàHđi đến khu vực có biển “Lăng mộ” bên lề đường Vân - Yên - Sơn thuộc xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy giáp với địa phận xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy thì Qgọi điện thoại cho Thỏi ma túy để ở đâu? Tnói: “Ma túy em để trong bao thuốc lá cũ, ở bên dưới biển lăng mộ”. QbảoHxuống xe lấy bao thuốc lá “Thăng Long” có chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có ma tuý đá.
Lấy được ma tuý QchởHđi về nhà Qthì thấy có Trí, Hùng, Đđang ở nhà Quân. Hđã gọi điện thoại cho H Văn Bhỏi Bcó nhà không để sang nhà Bsử dụng ma tuý, thì được Bđồng ý. Sau đó, Qđi vào tủ ở phòng khách và lấy ra một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 (một) ống thuỷ tinh dài khoảng 05cm, đầu ống cong, 01 (một) ống hút nhựa dài khoảng 20cm, 01 chiếc bật lửa gas vỏ nhựa màu vàng là dụng cụ để sử dụng ma tuý. Qđiều khiển xe chởHđi trước, còn Đđiều khiển xe chở Hvà Trđi sau đến nhà Bảo. Trên đường điHđã gọi điện thoại cho Tđi đến nhà Bđể cùng sử dụng ma tuý. Đến nhà Bthì Trí, Hùng, Đông, Quân, Huy, Tđi vào phòng bếp. Qlấy dụng cụ sử dụng ma tuý ra và lấy chai nhựa màu xanh (dạng chai 1,5 lít) có sẵn trong phòng bếp nhà Bảo, Qlấy nắp chai, rồi đưa chai nhựa cho Bđể Bđổ nước lọc vào trong chai. Qdùng bật lửa hơ nóng ống thủy tinh và đục 02 (hai) lỗ trên nắp chai, lắp cóng thuỷ tinh và ống nhựa vào nắp chai để làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Tiếp đó, Đlấy ống nhựa xúc toàn bộ ma túy đá vào cóng thủy tinh, Qdùng bật lửa đốt cho ma túy đá chảy ra, Hdùng một chiếc bật lửa khác đốt và hút một hơi ma túy đầu tiên rồi đưa lại cho Quân. Do bật lửa của Hcháy to, nên Qchế cho lửa nhỏ lại rồi cầm tự đốt ma túy và hút một hơi. Sau đó, Qlần lượt châm lửa cho Đông, Trí, Bảo, Toan,Hhút ma tuý. Mỗi người hút được hai lần thì hết số ma tuý đó. Sử dụng ma tuý xong, Qcầm ống thủy tinh và bật lửa về, trên đường về không để ý nên ống thuỷ tinh bị vỡ, còn chai nhựa để lại tại nhà Bảo. Đến ngày 28/6/2024, Trí, Đông, Hùng, Bảo, Quân, Toan,Hnhận thức được Hnh vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thuỷ đầu thú. Quá Tr đầu thú Qđã giao nộp 01 (một) ống thuỷ tinh rỗng bên trong, một đầu ống thẳng, một đầu ống cong đã bị vỡ. Bđã giao nộp 01 (một) chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng, bên trong có chất lỏng không màu
Ngày 22/7/2024 Trương Ngọc Tđã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thuỷ đầu thú, khai nhận về Hnh vi bán trái phép chất ma tuý cho Trương Hồng Qvào ngày 26/6/2024 tại thôn Tiên Lăng, xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen mà Tđã sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
Về nguồn gốc số ma tuý Tkhai nhận là mua của một người đàn ông tên Quang ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá với giá 400.000 đồng, Tđã bán lại cho Qvới giá 700.000 đồng. Ngoài ra, Tcòn khai nhận, vào ngày 10/6/2024 Tcó mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ma tuý đá của người tên “Quang” và đã sử dụng một mình hết số ma tuý đó ở nhà tại thôn Trâm Lụt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá
Ngày 22/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Thuỷ đã tiến Hnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Ngọc Tuân, quá Tr khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 2514/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine trong đoạn ống thuỷ tinh niêm phong gửi giám định; Tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine trong mẫu chất lỏng không màu niêm phong gửi đến giám định.
Tại bản kết luận giám định số 2515/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Cao Văn Trí, Nguyễn Đình Đông, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Trương Hồng Quân, Cao Văn Toan, Trương Quang Huy.
Vật chứng vụ án gồm: - 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát Hnh bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định;
- 01 (một) hộp giấy dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0969.873.234 thu của Cao Văn Trí;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0777.191.388 thu của H Văn Hùng;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp sim số 0372.348.841 thu của H Văn Bảo;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim số 0379.057.436 thu của Trương Hồng Quân;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong lắp sim số 0363.707.678 thu của Trương Quang Huy;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong có lắp sim số: 0962.619.946 thu của Cao Văn Toan;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen bên trong lắp 02 sim số điện thoại 0799.199.955 và số 0357.950.284 thu của Trương Ngọc Tuân;
Các vật chứng nêu trên đã được chuyển đến kho vật chứng của chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Cẩm Thủy.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 36L1-160.28, nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn xanh đen. Quá Tr điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát: 36L1 - 160.28, nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn xanh đen là của bà Cao Thị Ng, bà Ng không biết Trsử dụng vào việc phạm tội. Do đó, ngày 07/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp
Đối với Hnh vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trương Ngọc Tvào ngày 10/6/2024 tại thôn Trâm Lụt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thuỷ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thuỷ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm Hnh chính là phù hợp.
Đối với người tên “Quang” đã bán trái phép chất ma tuý cho Trương Ngọc Tvào ngày 10/6/2024 và ngày 26/6/2024 Cơ quan CSĐT đã tiến Hnh xác minh, tuy nhiên không có đủ căn cứ xác định đối tượng. Vì vậy, không đủ cơ sở để tiếp tục mở rộng, điều tra vụ án.
Đối với Bùi Thị Thuyên - Sinh năm: 1989; HKTT: Thôn Trâm Lụt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thuỷ là người mà Trương Ngọc T khai báo đã nhờ chuyển tiền đến tài khoản ngân Hng của người bán ma túy cho Tuân. Cơ quan CSĐT đã tiến Hnh xác minh và xác định ngày 26/6/2024 Bùi Thị Thuyên không có hoạt động giao dịch chuyển tiền như Trương Ngọc Tđã khai báo.
Đối với H Văn D - Sinh năm: 1993; HKTT: Thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ. Cơ quan CSĐT đã tiến Hnh điều tra xác định ngày 26/6/2024 anh Lê Bá Tr có nhờ anhD chuyển cho H Văn Tr400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để trả tiền bia. H Văn D không biết và không tham gia thực hiện Hnh vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đối với Lê Bá Tr - Sinh năm: 1986; HKTT: Thôn 3, xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Cơ quan CSĐT đã tiến Hnh điều tra xác định, ngày 26/6/2024 anh Lê Bá Tr có nhờ anhD chuyển tiền để trả tiền bia cho H Văn Hvà không có liên quan gì tới việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đối với anh Trịnh Văn H, sinh năm: 1983; HKTT: Thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá cơ quan điều tra đã tiến Hnh điều tra xác định ngày 26/6/2024 Cao Văn Tcó nhờ anh H chuyển tiền đến số tài khoản của người tên “TRUONG QUANG HUY” số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi chuyển tiền anh H không biết mục đích Tnhờ chuyển tiền để làm gì. Anh H không biết và không tham gia vào việc “ Tổ chức sử dụng sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSCT ngày 02/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đã quyết định truy Cao Văn Trí, Nguyễn Đình Đông, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Trương Hồng Quân, Cao Văn Tvà Trương Quang Hvề tội “Tổ chức sử dung trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS; truy tố Trương Ngọc Tvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ Ng quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Đề nghị mức án đối với: Trương Ngọc Ttừ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, (điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo Trương Quang Huy), Điều 17, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Đề nghị mức án đối với: Cao Văn Trtừ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, H Văn Htừ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, Trương Hồng Qtừ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, Trương Quang Htừ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù và H Văn Btừ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 47, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Đề nghị mức án đối với Nguyễn Đình Đtừ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, Cao Văn Ttừ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát Hnh bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định và 01 (một) hộp giấy dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định.
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0969.873.234 thu của Cao Văn Trí;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0777.191.388 thu của H Văn Hùng;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp sim số 0372.348.841 thu của H Văn Bảo;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim số 0379.057.436 thu của Trương Hồng Quân;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong lắp sim số 0363.707.678 thu của Trương Quang Huy;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong có lắp sim số: 0962.619.946 thu của Cao Văn Toan;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen bên trong lắp 02 sim số điện thoại 0799.199.955 và số 0357.950.284 thu của Trương Ngọc Tuân;
Truy thu của bị cáo Tsố tiền 700.000đ, truy thu của bị cáoHsố tiền 100.000đ để nộp ngân sách nhà nước .
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận Hnh vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy, kiểm sát viên trong quá Tr điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, Tr tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá Tr điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận Hnh vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:
Ngày 26/6/2024, tại nhà H Văn Bở thôn Giang Hồng 2, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy: Cao Văn Trí, Trương Hồng Quân, Trương Quang Huy, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Nguyễn Đình Đông, Cao Văn Tđã cùng nhau góp tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn gốc số ma túy là do Trương Hồng Qmua của Trương Ngọc Tvào ngày 26/6/2024, tại khu vực có biển “Lăng mộ” bên lề đường Vân – Yên – Sơn thuộc xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa với số tiền 700.000 đồng
Nay các bị cáo nhận thấy Hnh vi của mình là sai, đã thành khẩn khai báo mong được sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hnh vi của Cao Văn Trí, Trương Hồng Quân, Trương Quang Huy, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Nguyễn Đình Đông, Cao Văn Tđã phạm vào tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hnh vi của Trương Ngọc Tđã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, Hnh vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm hại đến trật tự trị an, an toàn xã hội mà hậu quả còn gây ra cho chính bản thân bị cáo và gia đình. Nhà nước đã cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ ma tuý nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật và thực hiện Hnh vi tổ chức sử dụng, mua bán trái phép chất ma tuý. Các bị cáo phạm tội có tính chất rất nghiêm trọng và nghiêm trọng. Do đó, việc lên mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo là cần thiết và cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt, đồng thời góp phần vào công tác phòng ngừa chung.
. Xét vai trò của các bị cáo: Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Các bị cáo cùng nhau thực hiện Hnh vi phạm tội, nhưng là bột phát, không có sự phân công, bàn bạc, tổ chức từ trước, do đó đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trlà người khởi xướng, thực Hnh tích cực và góp tiền mua ma tuý. Bị cáo Huy, Hùng, Qlà người thực Hnh tích cực, Hlà người góp tiền mua ma tuý. Sau khi bị cáo Trnói Qđi lấy ma tuý thì Qrủ thêm Tgóp tiền mua ma tuý, sau đó QrủHđi cùng để mua ma tuý. Do đó, các bị cáo có vai trò thứ hai, sau bị cáo Trí. Tiếp đến là vai trò của bị cáo Blà người chuẩn bị địa điểm sử dụng ma tuý là nhà ở của mình và cũng là người thực Hnh tích cực. Đối với bị cáo Tvà bị cáo Đlà người thực Hnh, giúp sức, TbịHrủ rê, do đó có vài trò thứ yếu, sau cùng.
Đối với Tội mua bán trái phép chất ma tuý: Chỉ có bị cáo Trương Ngọc Tthực hiện Hnh vi bán ma tuý cho bị cáo Quân.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt chính:
Bị cáo Hcó nhân thân xấu. Bị cáoHphải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã đầu thú, bị cáo Bvà bị cáo Tđã hoàn thành nghĩa vụ Qsự. Đối với bị cáo Tvà bị cáo Đ xét thấy nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, thực hiện Hnh vi phạm tội với vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án như đã nhận định ở trên. Do đó, cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng” và khoản 1 Điều 54 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Tvà Đông.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là không có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Về vật chứng: - 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0969.873.234 thu của Cao Văn Trí;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0777.191.388 thu của H Văn Hùng;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp sim số 0372.348.841 thu của H Văn Bảo;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim số 0379.057.436 thu của Trương Hồng Quân;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong lắp sim số 0363.707.678 thu của Trương Quang Huy;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong có lắp sim số: 0962.619.946 thu của Cao Văn Toan;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen bên trong lắp 02 sim số điện thoại 0799.199.955 và số 0357.950.284 thu của Trương Ngọc Tuân.
Là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện Hnh vi phạm tội, do đó tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Truy thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Tsố tiền 700.000đ, tiền thu lời bất chính từ việc bán ma túy.
Đối với số tiền 200.000đ Tgóp mua ma tuý sử dụng, nhưngHchỉ chuyển 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đến tài khoản của Trương Ngọc Tđể mua ma tuý, còn 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để đổ xăng xe máy. Nhưng tiền đó mục đích Tgóp cả để mua ma tuý sử dụng, nên cần truy thu của bị cáoH số tiền 100.000đ nộp ngân sách nhà nước.
01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát Hnh bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định và 01 (một) hộp giấy dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định.
Là vật chứng, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 của BLHS. Tuyên bố Trương Ngọc Tphạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS. Tuyên bố các bị cáo: Cao Văn Trí, Trương Hồng Quân, Trương Quang Huy, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Nguyễn Đình Đvà Cao Văn Tphạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Xử phạt Trương Ngọc T03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, (điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo Trương Quang Huy), Điều 17, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Xử phạt: Cao Văn Tr07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. Trương Hồng Q07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. Trương Quang H07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. H Văn H07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. H Văn B07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 47, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Xử phạt: Nguyễn Đình Đ05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. Cao Văn T05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: - 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0969.873.234 thu của Cao Văn Trí;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xám đen, bên trong lắp sim số 0777.191.388 thu của H Văn Hùng;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp sim số 0372.348.841 thu của H Văn Bảo;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim số 0379.057.436 thu của Trương Hồng Quân;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong lắp sim số 0363.707.678 thu của Trương Quang Huy;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong có lắp sim số: 0962.619.946 thu của Cao Văn Toan;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen bên trong lắp 02 sim số điện thoại 0799.199.955 và số 0357.950.284 thu của Trương Ngọc Tuân.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát Hnh bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định và 01 (một) hộp giấy dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa mẫu vật đã qua giám định.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Cẩm Thủy.
Truy thu của bị cáo Tsố tiền 700.000đ, truy thu của bị cáoHsố tiền 100.000đ nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo Trương Ngọc Tuân, Cao Văn Trí, Trương Hồng Quân, Trương Quang Huy, H Văn Hùng, H Văn Bảo, Nguyễn Đình Đvà Cao Văn Tmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an huyện Cẩm Thủy;
- VKSND huyện Cẩm Thủy;
- P7 VKS tỉnh Thanh Hóa;
- Chi cục THADS huyện Cẩm Thủy;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Vũ Thị Ánh Tuyết
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa VIỆN KSND TỈNH THANH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Mẫ u số 144/HS
HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo QĐ số …. ngà y….
tháng…. nă m……. VIỆN KSND HUYỆN CẨM THỦY
Cẩm thủy ngày 22 tháng 7 năm 2019
Số: 27/CT-VKS - MT
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THỦY
Căn cứ các điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 24/CSĐT ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 249 BLHS.
Căn cứ quyết định khởi tố bị can số 54; 55; 56 ngày 26 tháng 4 năm 2019 và Quyết định khởi tố bị can số 57/CSĐT ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy, đối với Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 249 BLHS
Căn cứ Bản kết luận điều tra số 29/KL-CSĐT ngày 12/7/2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định đƣợc nhƣ sau:
Đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn; khi thực hiện Hnh vi phạm tội các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có sự bàn bạc thống nhất nhưng không có sự phân công, phân rõ ràng, cụ thể mà chỉ hiểu ý nhau để cùng thực hiện Hnh vi phạm tội, các bị can có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hđã cùng nhau đi mua ma túy về để các đối tượng cùng sử dụng do đó phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, đối với Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên được xác định là đồng phạm trong vụ án.
Quá Tr điều tra, Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của bản thân phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan CSĐT thu thập được như đã nêu trên.
- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
* Tình tiết tăng nặng: Không
* Tình tiết giảm nhẹ: Bị can Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Quàng Văn Nên là người chưa có tiền án tiền sự. Quá Tr làm việc với Cơ quan điều tra các bị can Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Quàng Văn Nên và Phạm Văn Doanh có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải mong nhận được hưởng khoan hồng của pháp luật, do đó các bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:
KẾT LUẬN
Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại thôn Vinh xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã có Hnh vi tàng trữ 0,429 g (không phẩy bốn hai chín gam) ma túy, loại Methamphetamine (Ma túy đá) để xử dụng. Hnh vi của các bị can là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm tội như sau:
LÝ LỊCH BỊ CAN
Hành vi nêu trên của Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 – BLHS năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)
Điều 249, khoản 1 BLHS 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:
a.
….
c. Heroin, cocain, Methamphetamine,Amphetamine,MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
Đối với người đã bán ma túy cho Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, (Minh khai đã mua của một người đàn ông mà Minh không biết tên tuổi và địa chỉ) tại một quán Karaoke thuộc phố 1, xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc vào ngày 23/4/2019 với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sở dĩ Minh biết tìm đến khu vực trên để mua ma túy là do trước đây Minh được một người quen tên H( ở huyện Ngọc Lạc) có nói cho Minh biết. Mục đích Minh mua số ma túy trên là để Minh, Hùng, Doanh và Nên cùng sử dụng (hút hít) cho bản thân..
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Truy tố các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có lý lịch nêu trên ra trước Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS của Nước cộng hòa XHCN Việt Nam.
Kèm theo Cáo trạng là:
- Toàn bộ hồ sơ vụ án được đánh số bút lục từ 01 đến ……
- Bản kê vật chứng.
- Danh sách những người VKS đề nghị triệu tập đến phiên tòa./.
| Nơi nhận: - TAND Cẩm Thủy - VKSND Tỉnh Thanh Hóa - Cơ quan CSĐT CA Cẩm THủy - Bị can; - Hồ sơ vụ án; - Hồ sơ KS án hình sư; VP - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân | KT. VIỆN TRƢỞNG PHÓ VIỆN TRƢỞNG Phạm Minh Lƣợng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |