- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Hữu T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1982 tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hìn…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HSST Ngày: 08/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Tấn Phước.
2. Ông Huỳnh Tài Em.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Hữu T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1982 tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: ampn, xHP, hPL, tBL; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L, sinh năm 1951 và bà Lê Thị Th, sinh năm 1953; vợ và con: chưa có; tiền sự: không, tiền án: không. Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã, bị tạm giữ từ ngày 16 tháng 9 năm 2023, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Lợi. (Có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Văn S, sinh năm 1955 (Có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: a17, xVB, hHB, tBL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Phan Hữu T có quen biết và là bạn bè học chung với Lê Quốc V (con ông Lê Văn S) nên vào tối ngày 08/8/2020, Tài đến nhà ông S chơi và ngủ lại nhà của ông S. Sáng ngày hôm sau (09/8/2020) Vinh và ông S có việc đi khỏi nhà nên trong nhà ông S chỉ còn một mình T đang nằm ngủ. Sau khi đi công việc xong, ông S có dựng một chiếc xe máy biển kiểm soát 69F6-2428 tại vị trí cặp mé lộ, trước hàng ba nhà thiếc, phía dưới bờ sông đối diện nhà của ông S, rồi vào quán nước gần nhà để uống cà phê. Lúc này, T ở trong nhà ông S thức dậy nhưng không thấy ai trong nhà, T phát hiện trên tủ thần tài có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đang sạc pin nên T lấy điện thoại cất vào túi quần. Tài đi ra phía trước nhà thì nhìn thấy xe máy của ông Sự dựng ở phía đối diện bên đường lộ không có người trông coi nên lén lút đi đến lấy trộm, T đi đến gần xe thì thấy trên xe có sẵn chìa khoá nên leo lên xe, nổ máy chạy đi. T chạy xe lên TP. Bạc Liêu bán điện thoại vừa lấy trộm được cho một cửa hàng điện thoại (không nhớ tên và địa chỉ) được 200.000 đồng để đổ xăng rồi tiếp tục điều khiển xe lê TP. Hồ Chí Minh. T sử dụng xe máy được khoảng một tháng thì bán lại cho một người không rõ nhân thân với giá 700.000 đồng.
Đến tối ngày 09/8/2020, anh Lê Quốc T (con ông S) nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0934.048.337 (sim số của Lê Quốc V gắn trong điện thoại đã bị mất) kêu anh T chuyển tiền đến số tài khoản 0841000013204 của một người tên Lê Hồng Nh để chuộc lại xe máy trả cho ông S. Tuy nhiên, anh T gọi điện cho gia đình xác minh sự việc bị mất trộm điện thoại và xe máy nên không thực hiện yêu cầu chuyển tiền. Ngày 10/8/2020, ông Lê Văn S trình báo sự việc đến Công an xã Vĩnh Bình
Tang vật: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUPPORT, màu xanh, biển số: 69F6-2428, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A37, màu vàng đồng, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 61/KT-HDGĐTS, ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa Bình kết luận:
01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUPPORT, màu xanh, biển số: 69F6-2428, số khung: G032HS001612, số máy: FMG82A06638, thời điểm định giá ngày 21/9/2023 có giá trị là 5.500.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A37, màu vàng đồng, có giá trị là 840.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.340.000 đồng (Sáu triệu ba trăm bốn mươi nghìn)
Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSHB ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Phan Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Hữu T như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Hữu T từ 04 (bốn) tháng đến 05 (năm) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã đã bồi thường, khắc phục cho bị hại số tiền 6.340.000đồng và không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không bào chữa, không tranh luận và bị cáo nói lời sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an nhân dân huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào sáng ngày 09/8/2020 tại ấp 17, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Phan Hữu T lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Lê Văn Sự đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của ông S là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUPPORT, màu xanh, biển số: 69F6-2428, qua định giá có giá trị là 5.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A37, màu vàng đồng, qua định giá có giá trị là 840.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.340.000đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình truy tố bị cáo Phan Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Phan Hữu T khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại để chiếm đoạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại đến tài sản của chủ sở hữu mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi sinh hoạt xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội và cũng như phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt như sau: Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa gia đình của bị cáo tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Phan Hữu T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại gởi đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn S đã nhận lại số tiền của gia đình bị cáo khắc phục hậu quả số tiền là 6.340.000đồng và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với Lê Quốc V, hiện vắng mặt tại địa phương không triệu tập làm việc được.
Đối với số tài khoản 0841000013204, qua xác minh là của chủ tài khoản tên Lê Hồng Nh, mở tài khoản tại Vietcombank chi nhánh Bắc Bình Dương, tiến hành xác minh tại địa phương, Lê Hồng Nh đã bỏ địa phương đi đã lâu, không mời làm việc được.
Đối với việc số điện thoại 0934.048.337 nhắn tin đến số điện thoại của anh Lê Quốc T yêu cầu chuyển tiền chuộc xe máy. Phan Hữu T không thừa nhận việc nhắn tin cho anh T. Ngoài ra, các tài liệu, chứng cứ không đủ căn cứ xác định T là người nhắn tin yêu cầu chuyển tiền chuộc xe máy nên không xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Hữu T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Hữu T 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 16/9/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Hữu T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án theo đúng quy định pháp luật./. Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Người TGTT khác; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - CQĐT CA huyện Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - Viện KSND tỉnh Bạc Liêu; - Viện KSND huyện Hoà Bình; - Chi cục THADS huyện Hoà Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Thương |