vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày: 18 - 10 - 2023

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà

Ông Lò Văn Hoan

- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1993 tại tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản H, xã N, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; con ông: Lò Văn A, sinh năm 1953 và bà Lò Thị T1, sinh năm 1963; Có vợ: Lường Thị K, sinh năm 1988; có 02 con: con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 06/7/2023, Lò Văn T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 27B2-312.67 một mình đi từ bản H, xã N, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đến bản L, xã M, thành phố Điện Biên Phủ tìm mua được của người phụ nữ dân tộc Mông không biết lai lịch 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ với giá 50.000 đồng với mục đích sử dụng cho bản thân. T cầm ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Đến 12 giờ 50 phút cùng ngày thì T bị tổ công tác Công an phường ThA T phối hợp với công an xã M làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói heroine có khối lượng 0,17 gam cùng 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B2-312.67.

Chiếc xe mô tô bị cáo khai là mượn của bạn là chị Lò Thị P1, sinh năm 1984, trú tại bản P, xã N, thành phố Điện Biên Phủ. Chị P1 không biết bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị P1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 30 ngày 19/7/2023.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 06/7/2023 đã xác định: Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 0,17 gam; lấy toàn bộ vật chứng gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1154/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng ký hiệu H: 0,17 gam. Mẫu các viên nén màu hồng ký hiệu H gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng H: 0,07 gam. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 145/CT-VKSTPĐBP ngày 30/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng còn lại tịch thu để tiêu hủy. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 12 giờ 50 phút, ngày 06/7/2023, tại khu vực bản L, xã M, thành phố Điện Biên Phủ, bị cáo T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,17 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng, bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng được cân xác định khối lượng là 0,17 gam; kết luận giám định là chất ma túy, loại Heroine. Từ những căn cứ trên đủ cơ sở xác định: hành vi tàng trữ 0,17 gam Heroine của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc T hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật song vì nhu cầu của bản thân đã cố tình vi phạm. Do đó, cần phải xử bị cáo nghiêm minh theo quy định pháp luật.

Bị cáo sinh ra và lớn lên ở Điện Biên, được bố mẹ cho ăn học đến lớp 8/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp bố mẹ sau đó lập gia đình. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo còn có ông nội là Lò Văn Liến được thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu với khối lượng tàng trữ ma túy tương đối ít nên chỉ cần áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Xét đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thì bị cáo thu nhập không ổn định, cũng không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và các vấn đề khác:

Vật chứng là 0,07 gam Heroine (vật chứng còn lại sau khi giám định) là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần phải tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS. 01 mảnh nilon màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc màu trắng là những vật để gói, đựng ma tuý không có giá trị nên cần tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B2-312.67 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên HDXX chấp nhận.

Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn bà dân tộc Mông nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ, HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội dA:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 06/7/2023).

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau khi giám định); 01 (một) mảnh nilon màu đỏ và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).

Chấp nhận việc trả lại chiếc máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn: Đen – Trắng, số máy JF94E-0409446, số khung RLHJF6330MZ166130, biển kiểm soát 27B2-312.67 kèm 01 chìa khoá xe của Cơ quan cảnh sát điều tra cho chủ sở hữu chiếc xe là chị Lò Thị P1, theo Quyết định xử lý vật chứng số 30 ngày 19/7/2023.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 18/10/2023).

Cỡ chữ