vanban.org

Bản án 01/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Điêu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 13/7/2022. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Điêu Văn Thánh - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ML

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2022/HS-ST
Ngày: 21 -11- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ML, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Khoàng Thị Hà;

2. Bà Phạm Thị Tuyết;

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2022/TLST - HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Điêu Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982; Tại: thị xã ML, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Điêu Văn P - Sinh năm: 1962, con bà Chu Thị Đ - sinh năm: 1962; Bị cáo có vợ Mào Thị H, sinh năm 1982 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 01/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 22/3/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương); Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt: 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo đã chấp hành xong và đã đươc xóa án tích; Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 22/3/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện chưa được xóa án tích; Bị cáo chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính lần nào; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã ML từ ngày 13/7/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mào Thị H - Sinh năm: 1983; Nơi cư trú: Bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 13/7/2022, Điêu Văn T một mình đi xe máy từ nhà ở bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên đến khu vực xã Pa Ham, huyện M, tỉnh Điện Biên để tìm mua Heroine về để sử dụng. Khi đến nơi T gặp, trao đổi và mua được 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu hồng với giá 200.000đ của một người thanh niên khoảng 20 tuổi, T không quen biết. Sau khi mua được Heroine, người thanh niên đã bán Heroine cho T bỏ đi, còn T cầm số Heroine vừa mua được ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy quay về. Trên đường đi về nhà T đã dừng lại ở bụi tre ven đường lấy số Heroine vừa mua được ra dùng tay cấu một ít để sử dụng bằng hình thức hít, sau khi sử dụng xong T gói lại số Heroine còn lại như cũ rồi cầm ở tay phải và tiếp tục di chuyển về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến Km 473+950 Quốc lộ 06 thuộc khu vực bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an thị xã ML phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Điêu Văn T một gói nhỏ được gói bằng túi nilon màu hồng, bên trong có 01 cục chất bột màu trắng. Điêu Văn T khai nhận đó là số Heroine cất giấu mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng. Đồng thời tạm giữ của Điêu Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen và 01 chiếc điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA TA 1034, màu xanh đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 13/7/2022 đã xác định vật chứng thu giữ 01 gói nghi Heroine của Điêu Văn T có khối lượng 0,26 gam, trích 0,13 gam làm mẫu vật gửi giám định, khối lượng còn lại 0,13 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1019/KL-PC09 ngày 20/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Điêu Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine (Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018).

Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng bị cáo Điêu Văn T đã thừa nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên là đúng.

Tại bản Cáo trạng số: 13CT-VKSML, ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Điêu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện VKSND thị xã ML, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14; Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST; tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án; trả lại cho bị cáo 01 chiếc di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA TA 1034, màu xanh đã qua sử dụng; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen, số khung: RLHJG2703BY728128, số máy: JF27E0751996; Trả cho chị Mào Thị H - sinh năm: 1983; Nơi cư trú: Bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên, ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen, số khung: RLHJG2703BY728128, số máy: JF27E0751996; Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA TA 1034, màu xanh đã qua sử dụng.

Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình, chỉ xin lại chiếc xe cho gia đình. Ngoài ra không có ý kiến tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội. Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa và trong phần tranh luận chị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy: Chiếc xe trên chị H vay tiền ngân hàng mua trong thời gian bị cáo đang chấp hành án và chị H đã thanh toán ngân hàng trước khi bị cáo chấp hành án xong. Sau khi bị cáo chấp hành án xong chiếc xe vẫn để sử dụng chung cho gia đình. Việc bị cáo dùng chiếc xe đi mua ma tuý chị H không biết nên chị có nguyện vong xin lại chiếc xe máy để sử dụng chung của gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML vẫn giữ nguyên quan điểm, đề nghị HĐXX tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, trả lại cho chị Mào Thị H ½ giá trị chiếc xe máy vì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của cả hai vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 13/7/2022, tại Km 473+950 Quốc lộ 06 thuộc khu vực bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên; Tổ công tác Công an thị xã ML phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Điêu Văn T một gói nhỏ Heroine được gói bằng túi nilon màu hồng có khối lượng 0,26gam. Số Heroine trên bị cáo khai mua vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 13/7/2022, bị cáo một mình đi xe máy từ nhà ở bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên đến khu vực xã Pa Ham, huyện M, tỉnh Điện Biên để tìm mua Heroine về để sử dụng. Khi đến nơi bị cáo gặp, trao đổi và mua được 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu hồng với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của một người thanh niên khoảng 20 tuổi, bị cáo không quen biết. Sau khi mua được Heroine, người thanh niên đã bán Heroine cho bị cáo bỏ đi, còn bị cáo cầm số Heroine vừa mua được ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy quay về. Trên đường đi về nhà bị cáo đã dừng lại ở bụi tre ven đường lấy số Heroine vừa mua được ra dùng tay cấu một ít để sử dụng bằng hình thức hít, sau khi sử dụng xong bị cáo gói lại số Heroine còn lại như cũ rồi cầm ở tay phải và tiếp tục di chuyển về nhà, trên đường di chuyển về nhà thì bị bắt giữ. Động cơ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các biên bản ghi lời khai, bản cung của bị cáo có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người chứng kiến, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó với hành vi và khối lượng Heroine bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn thị xã ML nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích cụ thể: ngày 01/8/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 22/3/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương hiện chưa được xóa án tích. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo từ nhỏ sinh ra và lớn lên tại thị xã ML, tỉnh Điện Biên. Học hết lớp 09/12 thì bỏ học, sau đó ở nhà làm ăn sinh sống và lấy vợ tại bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên; Trong quá trình sinh sống tại địa phương, bản thân bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại sử dụng ma túy, việc bị cáo mua ma túy xong cất giấu nhằm mục đích sử dụng đã thể hiện sự công khai coi thường pháp luật của bị cáo. Với hành vi của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù để đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe và giáo dục bị cáo, đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng:

- Đối với 0,26 gam Heroine, đã trích 0,13 gam làm mẫu vật gửi giám định, không hoàn lại mẫu sau giám định, còn lại 0,13 gam. Vật chứng còn lại 0,13 gam Heroine là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen, số khung: RLHJG2703BY728128, số máy: JF27E0751996 là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Mặc dù chiếc xe trên chị H khai vay ngân hàng mua trong thời gian bị cáo đang chấp hành án, tuy nhiên quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo, chị Mào Thị H đều khai nhận chiếc xe trên sau khi bị cáo chấp hành xong vẫn để sử dụng chung của gia đình bị cáo, ngoài ra tài sản trên phát sinh vẫn trong thời kỳ hôn nhân, và việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội chị H không biết, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe máy, còn ½ giá trị chiếc xe máy thì trả lại cho chị Mào Thị H là phù hợp với Theo quy định tại Điều 213 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 33, Khoản 4 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- 01 chiếc điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA TA 1034, màu xanh đã qua sử dụng, qua xác minh và tại phiên toà bị cáo khai mang theo để sử dụng gọi điện cho gia đình, không sử dụng vào việc mua bán ma tuý nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Các vấn đề khác:

Đối với người thanh niên là người đã bán Heroine cho bị cáo do bị cáo không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ được, nên Hôi đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

Đối với chị Mào Thị H là vợ của bị cáo Điêu Văn T, trong quá trình điều tra chị H không biết việc bị cáo sử dụng xe máy của gia đình vào việc phạm tội nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

. Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Điêu Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo. Ngoài ra đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên về án phí, vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 213 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 33, Khoản 4 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Điêu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 13/7/2022.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án (Vật chứng còn lại đựng trong 01 phong bì công văn của Công an thị xã ML, các mép đều được dán kín, bên trong có chứa 0,13 gam Heroine).

- Tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen, số khung: RLHJG2703BY728128, số máy: JF27E0751996 tại thời điểm định giá hoặc bán đấu giá để nộp ngân sách Nhà nước; Trả lại cho chị Mào Thị H - sinh năm: 1983; Nơi cư trú: Bản H, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên, ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, Biển kiểm soát 27X1- 035.43 màu trắng đỏ đen, số khung: RLHJG2703BY728128, số máy: JF27E0751996 tại thời điểm định giá hoặc bán đấu giá (giao chìa khóa theo xe khi bán đấu giá).

- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA TA 1034, màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra tính năng hoạt động của điện thoại.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an thị xã ML, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ML, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/11/2022).

Cỡ chữ