vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ayun Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Xuân T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/01/2021. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Xuân T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AYUNPA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày: 18/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ksor Jă

2. Ông Nguyễn Đức Huy

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thắng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Võ Đình Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1972 tại Nha Trang, Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ 4, phường H, thị xã A, tỉnh G; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn  (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Nguyễn Văn T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; trú tại: 16/9 hẻm T, phường Đ, thị xã A, tỉnh G. Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 4, phường S, thị xã A, tỉnh G. Vắng mặt.

3. Bà Phan Thị N, sinh năm 1972; trú tại: Tổ 6, phường H, thị xã A, tỉnh G. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối tháng 8/2020, Nguyễn Thị Xuân T bắt đầu tìm hiểu việc đánh bạc dưới hình thức mua bán lô, số đề. Sau khi tìm hiểu xong T tự mình đứng ra bán lô, số đề cho ai có nhu cầu. Thực hiện ý định trên, T đi dạo trên địa bàn thị xã A, tỉnh G để bán ghi các lô số đề theo hình thức ghi trực tiếp và nhắn tin qua điện thoại theo số thuê bao “0766704272“ của T. Đến cuối ngày T tổng hợp vào giấy vở học sinh và xóa các tin nhắn của các con bạc gửi đến. Khi có kết quả xổ số T đánh dấu “tròn” vào số trúng để trả tiền trúng cho người mua lô, số đề. T và các con đề dựa theo kết quả xổ số của các tỉnh Miền Trung mở thưởng hàng ngày để làm căn cứ đánh bạc theo quy ước: Đối với xổ số Miền Trung: thứ hai theo đài Phú Yên, thứ ba theo đài Đăk Lăk, thứ tư theo đài Khánh Hòa, thứ năm theo đài Bình Định, thứ sáu theo đài Gia Lai, thứ bảy theo đài Quảng Ngãi, chủ nhật theo đài Khánh Hòa và kết quả xổ số đài Miền Bắc. Khi con đề đánh số đầu là lấy kết quả của giải tám, ghi 01 điểm phải trả 1.000 đồng. Đánh số “đuôi” là lấy 02 số cuối của giải đặc biệt, ghi 01 điểm phải trả 1.000 đồng. Đánh lô 02 số là lấy 02 số cuối của từng giải, ghi 01 điểm phải trả 13.000 đồng. Đánh lô 02 số hoặc đánh đầu hoặc đánh đuôi thì tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 70 lần. Đánh số đá là ghi hai lô của lô 02 số, ghi 01 điểm thì phải trả 24.000 đồng, tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 500 lần.

Đối với xổ số Miền Bắc mở thưởng hàng ngày: Khi con đề đánh số đầu, lấy kết quả 04 giải bảy; đánh số đuôi, lấy hai số cuối của giải đặc biệt; con đề đánh bao lô hai số là lấy 02 số cuối của từng giải; con đề đánh số đá là ghi 02 lô của lô hai số. Con đề đánh bao lô 02 số và đánh đầu, đuôi theo tỉ lệ ăn thua là 1 ăn 75 lần; đánh số đá, bao lô 03 số thì tỉ lệ ăn thua là 01 ăn 600 lần. Khi con đề đánh số đầu 1000 đồng phải trả 4.000 đồng, đánh số đuôi 1000 đồng phải trả 1.000 đồng; con đề đánh bao lô hai 1000 đồng phải trả 21.000 đồng; đánh số đá 1000 đồng phải trả 40.000 đồng.

Ngày 30/8/2020, lực lượng CSĐT Công an thị xã A và Công an phường H, thị xã A phát hiện Nguyễn Thị Xuân T có biểu hiện nghi vấn về hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô, đề nên đã mời T về trụ sở Công an thị xã làm việc. Tại cơ quan Công an, T đã thành khẩn khai rõ trong ngày 30/8/2020, T đánh bạc bằng hình thức ghi lô, số đề theo kết quả xổ số Miền Trung với Nguyễn Thị L số tiền 631.000 đồng, với Phan Thị N (SN: 1972, trú tại: Tổ 6, phường H) số tiền 1.214.000 đồng. Tại buổi làm việc này, T còn tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đỏ- đen, nhãn hiệu Masstel model izi 280 dùng để thực hiện việc mua bán lô, số đề và hai tờ phơi đề là tờ giấy kẻ ô li loại vở học sinh có thể hiện các chữ và số được đánh số (1), (2) có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Xuân T. Khi T bị phát hiện, tạm giữ thì chưa có kết quả xổ số của tỉnh Khánh Hòa mở thưởng nên chưa biết thắng, thua để chi trả cho các con bạc. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Thị Xuân T trong ngày 30/8/2020 được xác định: 1.845.000 đồng.

Tại cơ quan Công an, T khai nhận ngoài lần đánh bạc ngày 30/8/2020, T còn đánh bạc 02 lần trong ngày 29/8/2020. Cụ thể:

Theo kết quả xổ số của tỉnh Quảng Ngãi: Ngày 29/8/2020, T đánh bạc với nhiều con bạc (thể hiện tại mặt sau của tờ phơi được đánh số 2). Số tiền người chơi đề bỏ ra để mua lô, số đề là 4.754.000 đồng. Số tiền T phải trả cho người chơi đề trúng là 3.500.000 đồng. Trong đó có Nguyễn Thị L thắng được 490.000 đồng nhưng chưa nhận được tiền thắng bạc. Lần đánh bạc này chỉ xác định được T đánh bạc với 02 con bạc: với Nguyễn Thị L (SN: 1964, trú tại: hẻm 16/9 T, phường Đ) số tiền L đánh bạc là 206.000 đồng, với Nguyễn Thị Kim Y (SN: 1975, trú tại: Tổ 4, phường S) số tiền Y đánh bạc là 260.000 đồng. Ngoài những người trên thì không xác định được những người mua đề khác. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Thị Xuân T trong lần đánh bạc này là được xác định: 4.754.000 đ + 3.500.000 đ = 8.254.000 đồng.

Theo kết quả xổ số Miền Bắc: Ngày 29/8/2020, T đã đánh bạc với nhiều con bạc (thể hiện tại mặt tờ phơi được đánh số 2) với số tiền 3.872.000 đồng. Trong đó số tiền người chơi đề bỏ ra để mua lô, số đề là 2.072.000 đồng, số tiền T phải trả cho người chơi đề trúng là 1.800.000 đồng. Sau khi nhận tin nhắn mua lô, số đề của các con bạc thì T ghi vào một tờ giấy vở học sinh rồi xóa các tin nhắn đó nên không xác định được những người mua lô, đề. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Thị Xuân T trong lần đánh bạc này được xác định: 2.072.000đ + 1.800.000đ = 3.872.000 đồng.

Ngày 30/8/2020, Cơ quan điều tra tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Thị Xuân T tại tổ 4, phường H, thị xã A, G, quá trình khám xét không phát hiện tài liệu liên quan đến việc ghi lô, số đề.

Vật chứng vụ án:

- 02 (hai) tờ phơi đề giấy vở học sinh được đánh ký hiệu (1), (2) có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Xuân T do Trang tự nguyện giao nộp, được đưa vào hồ sơ vụ án;

- 01 (một) điện thoại di động màu đỏ- đen, hiệu Masstel model izi 280 (đã qua sử dụng), số IMEL: 35964409255174, kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao là 0766704272;

- Tiền VNĐ: 1.214.000 đồng (số tiền Phan Thị N mua lô số đề nhưng chưa kịp trả cho T) Ngọc đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A).

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T về tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Xuân T về tội Đánh bạc và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Xuân T từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b Điều 47 BLHS, tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.861.000đ, trong đó truy thu của bị cáo 2.016.000đ, truy thu của Nguyễn Thị L 631.000đ (số tiền mua lô, đề) tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền của Phan Thị N tạm nộp 1.214.000đ.

- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ - đen, hiệu Masstel model izi 280; tuyên tiêu hủy 01 sim điện thoại có số thuê bao 0766704272.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Xuân T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong 02 ngày 29 và 30/8/2020, bị cáo T đã 03 lần đánh bạc với các con bạc khác bằng hình thức ghi lô và số đề. Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì lần đánh bạc theo kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 29/8/2020 có tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.254.000 đồng là đủ định lượng cấu thành tội phạm đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về lần đánh bạc này.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, bị dư luận bất bình lên án, bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi vụ án được phát hiện, bị cáo đã biết ăn năn nên đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính từ các con bạc nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hiện tại bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Bản thân bị cáo có đủ điều kiện để tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nên căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và giao về cho UBND phường nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội vì động cơ, mục đích vụ lợi. Tuy nhiên, hiện tại bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đã được chính quyền địa phương xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Kim Y và Phan Thị N. Mức độ đánh bạc của ba đối tượng này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Về biện pháp tư pháp: Tổng số tiền bị cáo thu về trong 03 lần đánh bạc là: 6.826.000 đồng. Bị cáo đã chi trả tiền thắng bạc cho các con bạc 4.910.000 đồng. Số tiền bị cáo đã chi trả cho các con bạc chỉ xác định được chi trả cho Nguyễn Thị L 490.000 đồng (Nhưng chưa chi trả) Các con bạc khác đã nhận tiền trúng lô, đề không xã định được nhân địa chỉ nên không thể truy thu sung công. Đối với số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính được xác định là 1.916.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn giữ của Nguyễn Thị L số tiền trúng đề trong ngày 29/8/2020 là 490.000 đồng. Tổng hai khoản trên là 2.406.000 đồng. Bị cáo đã tạm nộp 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008070 ngày 09/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa để tự nguyện nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo còn phải tiếp tục nộp tiếp 906.000 đồng.

Đối với số tiền 1.214.000 đồng, là khoản tiền Phạm Thị N đánh lô, đề với bị cáo T trong ngày 30/8/2020 nhưng chưa kịp trả cho bị cáo. N đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Tại phiên tòa, Nguyễn Thị L cũng thừa nhận còn nợ bị cáo T số tiền mua lô, số đề chưa trả là 631.000 đồng. Nguyễn Thị L tự nguyên xin nộp vào quỹ nhà nước. Xét thấy các khoản tiền nói trên đều là phương tiện dùng vào việc đánh bạc, các đối tượng đều tự nguyện nộp lại nên cần tịch thu sung vào quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động màu đỏ- đen, hiệu Masstel model izi 280 là tài công cụ của bị cáo được dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 01 sim điện thoại có số thuê bao là 0766704272 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 tờ phơi đề giấy vở học sinh được đánh ký hiệu (1), (2) có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Xuân T. Xét thấy 02 thời phơi đề nêu trên là vật chứng của vụ án được đánh dấu bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã Ayun Pa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Xuân T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/01/2021.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị Xuân T 2.406.000 đồng. Bị cáo đã tạm nộp được 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008070 ngày 09/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa. Truy thu buộc bị cáo nộp số tiền còn lại 906.000 đồng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.214.000 đồng do Phạm Thị N giao nộp tại cơ quan điều tra. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ayun Pa và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai)

Truy thu buộc Nguyễn Thị L nộp lại số tiền 631.000 đồng để sung vào quỹ Nhà nước (Nguyễn Thị L tự nguyện xin nộp vào ngân sách nhà nước).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào quỹ nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động màu đỏ-đen, hiệu Masstel model izi 280 (đã qua sử dụng), số IMEL: 35964409255174.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số thuê bao là 0766704272;

Các vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ayun Pa và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/01/2021 đối với những người có mặt tại phiên tòa. Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với những người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ