vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 03/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 28/11/2020). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Phong bị truy tố và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày 03/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Văn Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Cường và Nguyễn Trung Bang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc P – tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/01/1984, tại ĐT, Quảng Ninh; nơi cư trú: Khu 2, phường ĐT, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Phi (đã chết) và bà Đào Thị Kim Dung (đã chết); vợ: Trần Thị Kim Oanh, có: 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/3/2007 bị TAND thị xã Móng Cái (nay là thành phố Móng Cái) xử phạt 48 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TY. Có mặt.

* Người làm chứng: Anh An Mạnh H – sinh năm 1975. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ 10 phút, ngày 28/11/2020, tổ công tác Công an huyện TY tuần tra, kiểm soát tại khu vực Km 0+300, Quốc lộ 18C, thuộc phố Lý Thường Kiệt, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh phát hiện xe ô tô biển số 14B-038.02 đang dừng đỗ tại lề đường bên phải hướng Bình Liêu - TY. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Ngọc P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên xe ô tô.

Thu giữ dưới sàn xe ô tô phía sau ghế lái tại vị trí Phong ngồi 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật, kích thước (8,5x8x5)cm, bên trong hộp có: 01 túi nylon kích thước (6x4)cm chứa các chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá; 01 chiếc bật lửa ga màu trắng – vàng – cam, đầu bật lửa gắn 01 ống kim loại hình trụ dài 3,7cm và 01 nắp vỏ chai nhựa màu xanh có đục 02 lỗ, gắn 01 ống thủy tinh uốn cong, một đầu dạng bầu bị vỡ; 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 13cm.

Tại Bản Kết luận giám định số 1624 ngày 30/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng: 0,953g (không phẩy chín năm ba gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc P khai nhận:

Trong quá trình điều tra bị can Nguyễn Ngọc P khai nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 27/11/2020 Phong cùng anh An Mạnh H (sinh năm 1975; trú tại Tổ 36B, khu 3, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long) là người lái xe thuê cho Phong, điều khiển xe ô tô biển số 14B-038.02 từ ĐT đi Hà Nội để đón khách. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cả hai điều khiển xe ô tô vào khu vực cổng bến xe Lương Yên (cũ) ngồi uống nước. Do trước đây Phong có sử dụng ma túy, nên Phong đưa 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) thuê 01 người lái xe ôm mua ma túy đá nhằm mục đích để sử dụng. Phong trả công cho người lái xe ôm 100.000 đồng, rồi cho túi ma túy vào hộp giấy mầu xanh và cất giấu trong túi áo khoác đang mặc. Phong, Hùng đón khách về huyện Bình Liêu. Sau khi trả khách xong Phong điều khiển xe ô tô về ĐT; khoảng 02 giờ ngày 28/11/2020 khi đến đoạn đường ngã ba TY - Bình Liêu, do buồn ngủ nên Phong dừng xe lại, xuống hàng ghế phía sau ghế lái lấy ma túy ra để sử dụng, nhưng do sơ ý Phong làm vỡ ống thủy tinh nên không sử dụng được, Phong cất túi ma túy vào hộp và để dưới sàn xe, sau đó ngồi trên ghế ngủ. Đến khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Người làm chứng An Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa, theo lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh không có quan hệ hay mâu thuẫn gì với bị cáo. Anh là lái xe thuê cho bị cáo Phong. Khoảng 02 giờ sáng ngày 28/11/2020 anh được chứng kiến sự việc Công an huyện TY kiểm tra phát hiện và thu giữ dưới sàn xe ô tô phía sau ghế lái tại vị trí Phong ngồi 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật, bên trong hộp có: 01 túi nylon chứa các chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY truy tố Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị xử bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Phong từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn sau giám định và bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 1624/KLGĐ ngày 30/11/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 02 giờ 10 phút ngày 28/11/2020, tại khu vực Km 0+300 Quốc lộ 18C thuộc phố Lý Thường Kiệt, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc P có hành vi tàng trữ trái phép 0,953g (không phẩy chín năm ba gam) ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, bị Công an huyện TY phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, đã cất giấu khối lượng 0,953 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và vi phạm Luật Phòng, chống ma túy; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 18/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Ngọc P ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 bị cáo có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung nêu trên đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

01 xe ô tô biển số 14B-038.02; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ số KD 3267654; 01 giấy phép lái xe số 990116990756 mang tên Nguyễn Ngọc P; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TMCP Tiên Phong số 14B-03802/THN/2; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0048524; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số ACDT 200033679, không liên quan đến tội phạm Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TY tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, về nhân thân, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

Nội dung khác: Đối với người lái xe ôm mà Nguyễn Ngọc P thuê mua ma túy, do không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở điều tra làm rõ được.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 28/11/2020).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1624/KLGĐ có 01 túi nylon màu trắng, kích thước (06x43)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng loại ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, khối lượng 0,89g; 01 hộp giấy màu xanh hình chữ nhật, kích thước (8,5x8x5)cm; 01 chiếc bật lửa ga màu trắng-vàng-cam, đầu bật lửa gắn 01 ống kim loại hình trụ dài 3,7cm; 01 nắp vỏ chai nhựa màu xanh có đục 02 lỗ, gắn 01 ống thủy tinh uốn cong, một đầu dạng bầu bị vỡ; 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 13cm.

(Tình trạng như tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 10/CCTHADS-BB ngày 28/01/2021 giữa Công an huyện TY và Chi cục thi hành án dân sự huyện TY).

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo Nguyễn Ngọc P có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ