vanban.org

Bản án 01/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Ma Văn M 18 (Mư i tám) tháng cải tạo không giam giữ về t i “Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng”. Th i hạn cải tạo t nh từ ngày Uỷ ban nhân dân xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn nhận đư c quyết định thi hành án.

Về trách nhi m dân sự: Bu c bị cáo phải bồi thư ng thi t hại cho ngư i bị hại Lý Văn Th số tiền: 35.885.474 đồng (Ba mươi lăm tri u, tám trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm bảy mươi bốn đồng). K từ ngày ngư i có quyền đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà ngư i phải thi hành án chậm thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Văn M "cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" với Lý Văn Th - phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ c…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Ma Văn M 18 (Mư i tám) tháng cải tạo không giam giữ về t i “Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng”. Th i hạn cải tạo t nh từ ngày Uỷ ban nhân dân xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn nhận đư c quyết định thi hành án.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH THÁI NGUY N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-PT
Ngày: 06 - 01 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH THÁI NGUY N

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài

Các Thẩm phán: Ông Vương Hồng Giang

Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình Kiêm - Ki m sát viên.

Trong các ngày 05 và 06 tháng 01 năm 2021, tại H i trư ng Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2020/TLPT-HS ngày 07/10/2020, do c kháng cáo của bị cáo Ma Văn M đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 36/2020/HS-ST ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huy n PL, tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo có kháng cáo:

Ma Văn M, tên gọi khác: Không, sinh năm 1984, tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi đăng ký h khẩu và nơi : Xóm NH, xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghi p: Công nhân; trình đ văn h a: 9 12; dân t c: Tày; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Ma Văn Kh1 và con bà: Nguyễn Thị C1 (đã chết); c v : Trần Thị Th1, c 02 con, con lớn sinh năm 2009,con nh sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (không bị tạm giữ, tạm giam). C mặt ngày 05/01/2021.

* Người bào chữa cho bị cáo do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên cử: Luật sư Nguyễn Ngọc Thụy, Văn phòng luật sư Thụy Hoàng thu c Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên (C mặt ngày 05/01/2021).

* Bị hại không kháng cáo:

Anh Lý Văn Th, sinh năm 1975.

Trú tại: X m CTh, xã ÔL, huy n PL, tỉnh Thái Nguyên. (C đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người bảo V2 quyền và lợi ích H5 pháp cho bị hại:

Luật sư Phạm Trung Kiên và Nguyễn Thị Ngọc Anh – Công ty luật TNHH Kan và c ng sự thu c Đoàn luật sư tỉnh Thái nguyên (Có mặt sáng ngày 05/01/2021)

- Người giám định: Ông Đỗ Bình Trọng - Giám định viên, Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên. (C mặt sáng ngày 05/01/2021)

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1978

2. Anh Đào Trọng V, sinh năm 1973

3. Chị Tri u Thị H2, sinh năm 1980

4. Chị Tri u Thị Qu, sinh năm 1979

Đều trú tại: X m NT, xã ÔL, huy n PL, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều c mặt ngày 05/01/2021)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Khoảng 20 gi ngày 14 4 2019, tại nhà Đào Trọng V, xóm NT, xã ÔL, huy n PL, tỉnh Thái Nguyên c tổ chức ăn cơm, uống rư u gồm c Phan Văn V2, Ma Văn M và chị Tri u Thị Qu là v V. Đến khoảng 21 gi cùng ngày, Đào Trọng Th3 (là em trai V) điều khi n xe máy ch Lý Văn Th đến nhà V uống rư u. Trước đ , Th3 và Th đã ăn cơm, uống rư u nhà Nguyễn Văn D2. Khoảng 30 phút sau, V2 và Th3 về trước, còn Th lại tiếp tục uống rư u. Đến khoảng 22 gi cùng ngày thì c Nguyễn Văn D đến ngồi uống rư u cùng. Lúc này, tại nhà V chỉ còn Th, D, V và M. Trong lúc uống rư u Th bảo V phải gọi Th bằng chú vì theo họ hàng thì V gọi v Th là dì. V n i “chú thì uống thêm vài chén”. Sau đ Th liên tục chửi V: “Đ.m thằng V Hoa nhà mày là nhà tao, v mày là v tao (Hoa là tên mẹ V)”. Thấy Th c bi u hi n say rư u nên V nói: “Khéo ra cháu phải gọi chú là chú, nếu không cháu gọi chú bằng thằng”. Thấy Th chửi V nhiều và c bi u hi n say rư u nên M đã can ngăn, nhắc nh và n i với Th phải tôn trọng chủ nhà. Ngay lúc đ thì Th quay sang chửi M: “Đ.m mày là thằng nào, mày đâu ra đây”. Sau đ , Th và M c cãi chửi nhau, Th cầm chiếc đi n thoại di đ ng Iphone 4s của mình giơ ra trước mặt M, M bảo Th nói chuy n thì b đi n thoại xuống. Th không nghe, tiếp tục cầm đi n thoại chỉ vào mặt M và thách thức M đập đi n thoại. M đã cầm đi n thoại của Th ném ra ngoài cửa nhà. Th và M tiếp tục to tiếng cãi nhau. Chị Qu v V thấy vậy đã can ngăn và bảo mọi ngư i giải tán đ dọn dẹp. Sau đ , D và M đi b từ nhà V đến nhà D đ uống nước (nhà D cách nhà V khoảng 200m), V bảo chị Qu kh a cửa nhà đi ngủ, V cũng đi b sang nhà D. Chị Qu bảo Th đi về đ chị Qu còn cho con ngủ, Th điều khi n xe máy đi. Sau khi anh Th đi, anh V quay về nhà lấy 04 chai bia và đá rồi đi đến nhà anh D uống bia cùng M, D ngồi uống bia đến khoảng 01 gi sáng ngày 15 4 2019, Th điều khi n xe máy đến nhà D, D m i Th ngồi uống bia cùng mọi ngư i. Lúc này tr i mưa to, đi n thắp sáng nhà D bị chập ch n lúc c , lúc không. Th yêu cầu M bồi thư ng chiếc đi n thoại di đ ng Iphone 4s mà M đã ném làm hư h ng tại nhà V nhưng M không đồng ý. Ngay lúc đ , D nhìn thấy Th rút từ trong túi quần ph a trước bên phải ra m t con dao nhọn nên hô “M ơi, Th n c dao đấy”. M quay sang nhìn thấy Th đang cầm dao nhọn đâm về ph a M, M tránh né thì bị dao đâm sư t vào má bên trái. M đá liên tiếp nhiều nhát vào ngư i Th làm Th ngã xuống nền nhà và bị D, V lao vào giữ Th, chị H2 v D đã lấy con dao từ tay Th và đ thành cửa sổ. V, D sau đ cũng b tay Th ra, M bị thương chảy máu mặt nên V đưa M đi về nhà V đ băng b vết thương. Còn Th bị D đuổi về, do c uống rư u và bị M đánh đau nên Th không đi xe máy mà đi b từ nhà anh D xuống đư ng nhựa trước cổng nhà anh D. Sau khi băng b vết thương cho M xong, V đi b quay lại nhà D mục đ ch xem Th đã về chưa. Khi đến, D bảo Th đi xuống đư ng rồi nên V và D dùng đèn pin soi thì phát hi n thấy Th đang đứng khom ngư i dưới mương nước trước cổng nhà D. V và D đã kéo Th lên đư ng bảo Th đi về rồi V và D đi về nhà ngủ. Sau đ , Th đi b đến nhà Phan Quý Đ (cách nhà anh D khoảng 300m) nh Đ đưa về nhà, Đ lấy xe máy đưa Th về nhà, ngư i nhà đưa Th đi cấp cứu tại B nh vi n A Thái Nguyên điều trị từ ngày 15 4 2019 đến ngày 04 5 2019 ra vi n.

Tại b nh án vào vi n số 1902 155 ngày 15/4 2019 của B nh vi n A Thái Nguyên xác định: Vùng hàm mặt sưng t m, bụng căng cứng thành bụng trái. B nh ch nh thủng ru t non, đa chấn thương phần mềm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 270 TgT ngày 05 6 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Tỷ l tổn thương cơ th của Lý Văn Th do thương t ch gây nên hi n tại là 31%. Áp dụng phương pháp c ng theo Thông tư 20 2014 TT-BYT. Cơ chế hình thành vết thương: Do tác đ ng tương hỗ của vật tày.

Tại biên bản xem xét dấu vết thân th ngày 15 4 2019 đối với Ma Văn M c các dấu vết sau: 01 vết rách da KT dài 02cm đã khâu phục hồi 03 mũi má bên trái, cách mép trái 01cm, vết rách sắc gọn. Bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 269 TgT ngày 05 6 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỷ l tổn thương cơ th của Ma Văn M do thương t ch gây nên hi n tại là 1%.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc đi n thoại di đ ng Iphone 4s, 01 con dao màu đen và 01 áo sơ mi.

Quá trình giải quyết vụ án anh Lý Văn Th yêu cầu Ma Văn M bồi thư ng trị giá chiếc đi n thoại là 900.000đồng, tổng các khoản là 129.537.360 đồng. Bị cáo chưa bồi thư ng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36 2020 HS-ST ngày 24/8/2020, Toà án nhân dân huy n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định: Tuyên bố bị cáo Ma Văn M phạm t i "Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng V2 ch nh đáng". Áp dụng khoản 1 Điều 136; đi m i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 48; Điều 36 B luật hình sự; Điều 357, 468. 590, 594 B luật dân sự; Điều 106, 135, 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 về án ph .

Xử phạt: Bị cáo Ma Văn M 18 (Mư i tám) tháng cải tạo không giam giữ. Th i hạn cải tạo t nh từ ngày UBND xã YTh, huy n CĐ nhận đư c quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về trách nhi m dân sự: Bu c bị cáo phải bồi thư ng thi t hại cho ngư i bị hại Lý Văn Th số tiền: 35.885.474 đồng.

Ngoài ra bản án còn quyết định về bi n pháp bảo đảm thi hành án, xử lý vật chứng, về án ph và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08 9 2020 bị cáo Ma Văn M kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm. Do kháng cáo của bị cáo không rõ n i dung, tại biên bản làm vi c ngày 10/9/2020 bị cáo kháng cáo với n i dung: Mức hình phạt Tòa án huy n Phú Lương đã tuyên 18 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là quá cao bị cáo không nhất tr ; số tiền bồi thư ng quá cao so với thực tế; đề nghị xem xét xử lý bị hại Lý Văn Th có hành vi dùng dao gây thương t ch 1% trên mặt của bị cáo.

Ngày 08 9 2020 bị hại Lý Văn Th kháng cáo cho rằng bị cáo Ma Văn M phạm t i “Cố ý gây thương t ch hoặc gây tổn hại sức kh e cho ngư i khác”, c dấu hi u b lọt ngư i phạm t i là Nguyễn Văn D, tăng bồi thư ng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Ngày 09 11 2020 bị hại Lý Văn Th rút toàn b n i dung kháng cáo, Tòa án đã ra thông báo về vi c rút kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ma Văn M thay đổi n i dung kháng cáo đề nghị: Hủy bản án sơ thẩm vì hành vi chống trả của bị cáo là phòng v chính đáng; xử lý hành vi bị hại dùng dao gây thương t ch cho bị cáo bằng pháp luật hình sự và bu c phải bồi thư ng 1% thương t ch cho bị cáo. Bị cáo thừa nhận c hành vi dùng chân phải đạp nhiều nhát vào ph a trước phần mềm ngư i bị hại gây tổn thương 31%, ngoài ra không có ai khác, tuy nhiên hành vi của bị cáo là phòng v ch nh đáng vì bị hại đã dùng dao nhọn đâm nhiều nhát vào ngư i bị cáo, thực tế bị cáo bị thương mặt tổn hại 1%.

Giám định viên tại phiên tòa phúc thẩm giải th ch về kết luận giám định số 270 TgT ngày 05 6 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên: Bản kết luận đã căn cứ vào quyết định trưng cầu giám định pháp y của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Phú Lương, hồ sơ b nh án của anh Lý Văn Th, biên bản ghi l i khai và dấu vết đ lại trên cơ th ngư i bị hại. Kết luận: Dấu hi u ch nh qua giám định: thủng ru t non; c 01vết sẹo mổ KT lớn và 02 sẹo dẫn lưu KT nh tỷ l tổn thương cơ th do thương t ch gây nên hi n tại là 31% là đúng theo đi m 1.1 mục III chương 5 của Thông tư số 20 2014 TT-BYT ngày 12 6 2014 của B Y tế quy định tỷ l tổn thương cơ th sử dụng trong giám định pháp y. Về cơ chế hình thành vết thương do tác đ ng tương hỗ của vật tày: Vật tày c th là nắm đấm bằng tay, đá, đạp bằng chân …..

Tại phiên tòa phúc thẩm, trong phần phát bi u quan đi m giải quyết vụ án, đại di n Vi n ki m sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên t m tắt n i dung vụ án, phân t ch đánh giá t nh chất vụ án, hành vi phạm t i, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với bị cáo. Đại di n Vi n ki m sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng đi m a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2020/HSST ngày 24/8/2020 Tòa án nhân dân huy n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo tranh luận: Không nhất tr với đề nghị của Vi n ki m sát tại phiên tòa mức hình phạt đối với bị cáo là nặng.

Ngư i bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Bị cáo kháng cáo toàn b bản án đề nghị xem xét mức hình phạt, mức bồi thư ng là quá cao; xem xét hành vi của bị hại dùng dao gây thương t ch cho bị cáo 1%. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi n i dung kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, vi c thay đổi n i dung kháng cáo của bị cáo là c căn cứ đúng quy định của pháp luật. Luật sư thấy rằng quá trình điều tra cơ quan tiến hành tố tụng c vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì bị cáo M tại phiên tòa khai c đơn khiếu nại bị hại c hành vi gây thương t ch 1% cho bị cáo nhưng cơ quan điều tra không giải quyết. Bản án sơ thẩm lại xác định quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không c ý kiến yêu cầu đối với hành vi của Lý Văn Th. Vi c yêu cầu trưng cầu giám định của cơ quan điều tra không kịp th i. Kết quả giám định dựa vào b nh án, hồ sơ không xem xét trực tiếp trên cơ th ngư i giám định xem vết thương còn hay mất, trong n i dung kết luận giám định c ghi cả vết sẹo mổ là chưa ch nh xác. Giám định viên đã giải th ch tại phiên tòa nhưng chưa thuyết phục.

Về định giá tài sản: Bị cáo bị kh i tố về t i cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng, cơ quan điều tra định giá chiếc đi n thoại hư h ng là không đúng và trình tự thủ tục định giá không đúng. Bản án tuyên hủy đi n thoại và bu c bị cáo bồi thư ng giá trị chiếc đi n thoại là vư t quá thẩm quyền.

L i khai của bị cáo, bị hại, ngư i làm chứng trong vụ án c mâu thuẫn. Tuy nhiên bản án xác định l i khai nhận t i của bị cáo phù H5 với l i khai của những ngư i này là không đảm bảo khách quan. Bị cáo khai c dùng chân đạp vào ngư i bị hại về ph a trước không biết trúng vào đâu sau khi anh Th có hành vi tấn công M. Bị hại kháng cáo sau đ rút kháng cáo và không đến phiên tòa phúc thẩm chứng t vi c bị hại khai báo gian dối.

Vi c xác định t i danh: M t bên cầm dao đâm, m t bên dùng chân đạp phải xem xét tương quan lực lư ng, khi anh Th ngã thì bị cáo dừng lại luôn. Vi c cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về t i Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng là chưa c căn cứ.

Về phần bồi thư ng cấp sơ thẩm bu c bị cáo bồi thư ng tiền mất thu nhập của ngư i bị hại và ngư i chăm s c bị hại, tiền vi n ph là không c cơ s . Bị hại c phần lỗi tuy nhiên cấp sơ thẩm không xem xét phần lỗi của bị hại.

Trong b nh án của anh Lý Văn Th tại mục quá trình b nh lý c ghi: B nh nhân bị tai nạn xe máy, tai nạn giao thông…nên c sự mâu thuẫn về nguyên nhân bị hại bị thương. Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm đ điều tra lại.

Đại di n Vi n ki m sát đối đáp:

Vi c bị cáo khai tại phiên tòa phúc thẩm c gửi đơn khiếu nại đến cơ quan điều tra huy n Phú Lương, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án thụ lý cấp phúc thẩm không c li u th hi n n i dung này, nếu thật sự c vi c này thì bị cáo c quyền khiếu nại tiếp đến cơ quan c thẩm quyền đ xem xét n i dung khiếu nại của bị cáo theo quy định.

Vi c giám định tại phiên tòa đã đư c giám định viên giải th ch rõ và c cơ s , kết luận giám định là khách quan.

Nguyên nhân ch nh dẫn đến vi c bị cáo M và Th mâu thuẫn là do M ném đi n thoại của Th, c l i qua tiếng lại với nhau, cơ quan chuyên môn định giá thi t hại của chiếc đi n thoại giải quyết trong vụ án là c căn cứ.

Bị cáo cho rằng bị cáo gây thương t ch cho bị hại là do bị hại dùng dao đâm vào má trái của bị cáo đây là hành vi phòng v , tuy nhiên hành vi của bị cáo phải xem xét đến hậu quả thực tế xảy ra, bị hại bị thương t ch tổn hại với tỷ l 31% nên bị cáo phải chịu hậu quả do hành vi của mình gây nên, do đ hành vi của bị cáo đã cấu thành t i cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng quy định tại khoản 1 Điều 136 B luật hình sự.

Vi c bồi thư ng cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của B luật dân sự và các văn bản hướng dẫn về bồi thư ng dân sự ngoài H5 đồng, đã t nh đúng mức bồi thư ng.

Đại di n Vi n ki m sát giữ nguyên quan đi m như trên.

Luật sư bảo v quyền và l i ch H5 pháp của bị hại gửi bản luận cứ đề nghị H i đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Bị cáo nhất tr với quan đi m của ngư i bào chữa và không c ý kiến bổ sung gì. L i n i sau cùng bị cáo đề nghị xem xét hành vi của bị hại gây thương t ch 1% cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sư vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo Ma Văn M làm trong hạn luật định đư c đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

. Căn cứ vào tài li u, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, l i khai của bị cáo; l i khai của ngư i bị hại; l i khai của những ngư i làm chứng tại cơ quan điều tra và tại các phiên tòa; biên bản khám nghi m hi n trư ng, b nh án, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ, H i đồng xét xử c đủ cơ s xác định: Hồi 01 gi 00 phút ngày 15 4 2019, Nguyễn Văn D, Đào Trọng V, Ma Văn M đang ngồi uống bia với nhau nhà D tại xóm NT, xã ÔL, huy n PL, tỉnh Thái Nguyên thì Lý Văn Th đến, anh D c m i Th ngồi xuống uống bia cùng. Khi đang ngồi uống bia thì Th yêu cầu M bồi thư ng chiếc đi n thoại di đ ng Iphone 4s mà trước đ M đã ném làm hư h ng tại nhà anh V nhưng M không đồng ý, Th đã cầm dao nhọn đâm M sư t vào má bên trái làm M bị thương, lập tức M đạp liên tiếp vào bụng Th làm Th bị thương t ch, tỷ l tổn thương cơ th của Th là 31%; của M là 1%.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ma Văn M cho rằng bị cáo c dùng chân phải đạp nhiều nhát vào ph a trước phần mềm ngư i bị hại Lý Văn Th gây tổn thương 31%, là do ngư i bị hại c hành vi dùng dao đâm nhiều nhát vào bị cáo, nên vi c bị cáo chống trả đ là hành vi phòng v ch nh đáng. H i đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này bị hại Lý Văn Th có hành vi dùng con dao loại gấp c đầu nhọn gây thương tích cho bị cáo M với tỷ l tổn thương cơ th 01% là có thật. Hành vi của bị hại cũng là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo M đã dùng chân đạp liên tiếp vào vùng bụng của bị hại, dẫn đến bị hại bị thủng ru t non tổn thương cơ th 31% hành vi chống trả của bị cáo đã vư t quá giới mức cần thiết. Bị cáo cho rằng bị hại c hành vi dùng dao đâm nhiều nhát vào bị cáo, nhưng với hành vi này của bị hại chỉ c duy nhất l i khai của bị cáo th hi n, còn l i khai của những ngư i làm chứng anh D và anh V, chị H2 không nhìn thấy bị hại đâm bị cáo. Với hành vi phạm t i và tỷ l thương t ch bị cáo gây ra cho bị hại 31%, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về t i “Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng” theo khoản 1 Điều 136 của b luật hình sự là c căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo cho rằng mình phòng v ch nh đáng là không c căn cứ chấp nhận.

. Xét kháng cáo của bị cáo:

- Về n i dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do hành vi của bị cáo là phòng v ch nh đáng, bị cáo không phạm t i “Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng” theo khoản 1 Điều 136 của b luật hình sự như cấp sơ thẩm đã xét xử là không c căn cứ chấp nhận như đã phân t ch trên.

- Về đề nghị xử lý bị hại Lý Văn Th dùng dao gây thương t ch 1% cho bị cáo, H i đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra bị cáo không yêu cầu gì đối với bị hại về phần bồi thư ng và bị cáo cũng không c đơn yêu cầu kh i tố đối với bị hại về hành vi này nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phú Lương đã kết luận tách ra xử lý sau. Theo quy định tại Điều 298 của B luật tố tụng hình sự thì không thu c thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Về n i dung xin giảm nhẹ hình phạt: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại đi m i, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Với t nh chất, mức đ hành vi phạm t i của bị cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 18 tháng cải tạo không giam giữ là phù H5. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không c căn cứ đ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đối với n i dung đề nghị giảm bồi thư ng, H i đồng xét xử xét thấy: Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của B luật dân sự, thương t ch thực tế của bị hại, h a đơn chứng từ H5 l và chi ph H5 lý của bị hại gồm: Chi ph vi n ph điều trị 18.159.360đồng (theo h a đơn), tiền thuê phương ti n đưa bị hại đi cấp cứu 2 lư t (đi và về) 400.000đồng, tiền công mất thu nhập của ngư i bị hại trong th i gian nằm vi n 250.000đ x 20 ngày = 5.000.000đồng, tiền công mất thu nhập của ngư i phục vụ 250.000đ x 20 ngày = 5.000.000đồng, tiền tổn thất tinh thần 23.084.000đồng (16 tháng lương cơ s ). Bồi thư ng thi t hại giá trị chiếc đi n thoại theo định giá là 850.000đồng. Tổng c ng 53.249.360 đồng, đư c trừ số tiền bảo hi m y tế đã chi trả là 17.363.886 đồng. Bu c bị cáo bồi thư ng cho bị hại 35.885.474 đồng là c căn cứ, đúng quy định.

Trong vụ án này H i đồng xét xử không t nh lỗi của ngư i bị hại đ xem xét giảm hình phạt cũng như giảm mức bồi thư ng cho bị cáo vì nguyên nhân xuất phát từ vi c bị cáo c hành vi ném h ng đi n thoại của bị hại.

Quan đi m của luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng c vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. H i đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo không n p thêm m t tài li u chứng cứ nào khác cho Tòa án liên quan đến vi c bị cáo c đơn khiếu nại về hành vi bị hại đã gây thương tích cho bị cáo. Các tài li u trong hồ sơ không th hi n n i dung này, n i dung này chỉ đư c th hi n trong bản luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo. Mặt khác luật sư và bị cáo cũng không n p cho H i đồng xét xử các tài li u này đ H i đồng xét xử xem xét và đánh giá. Tại bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huy n Phú Lương cũng đã kết luận do Ma Văn M chưa yêu cầu xem xét về thương t ch 1% của mình nên tách ra xem xét xử lý sau. Vấn đề này bị cáo c quyền thực hi n quyền l i của mình theo quy định của B luật tố tụng hình sự.

Đối với sự mâu thuẫn về lý do vào vi n trong b nh án của anh Lý Văn Th: Về vấn đề này đã đư c cơ quan điều tra làm rõ khi chị Phan Thị H5 là v anh Lý Văn Th đưa bị hại vào vi n do anh Th chưa k nên chị H5 nghĩ anh Th bị ngã xe nên khai với y tá là chồng bị tai nạn xe máy.

Về cơ chế hình thành vết thương của ngư i bị hại; yêu cầu xem xét lại phần bồi thư ng trách nhi m dân sự đã đư c phân t ch trên nên H i đồng xét xử không chấp nhận;

Về xử lý vật chứng: Chiếc đi n thoại của anh Th đã bị M ném h ng, không còn giá trị sử dụng, cấp sơ thẩm đã quyết định tiêu hủy chiếc đi n thoại và bu c bị cáo phải c trách nhi m bồi thư ng là đúng quy định của pháp luật.

Với các căn cứ nêu trên, H i đồng xét xử không chấp nhận đề nghị hủy bản án sơ thẩm của luật sư bào chữa cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại di n Vi n ki m sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là c căn cứ H i đồng xét xử chấp nhận.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị, H i đồng xét xử không xem xét.

. Kháng cáo của bị cáo không đư c chấp nhận nên bị cáo phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào đi m a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của B luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn M, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2020/HSST ngày 24/8 2020 của Tòa án nhân dân huy n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 136, đi m i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36; Điều 47, Điều 48 B luật hình sự, Điều 357, 468, 590, 594 B luật dân sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph , l ph Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Ma Văn M 18 (Mư i tám) tháng cải tạo không giam giữ về t i “Cố ý gây thương t ch do vư t quá giới hạn phòng v ch nh đáng”. Th i hạn cải tạo t nh từ ngày Uỷ ban nhân dân xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn nhận đư c quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã YTh, huy n CĐ, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2. Về trách nhi m dân sự: Bu c bị cáo phải bồi thư ng thi t hại cho ngư i bị hại Lý Văn Th số tiền: 35.885.474 đồng (Ba mươi lăm tri u, tám trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm bảy mươi bốn đồng).

K từ ngày ngư i có quyền đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà ngư i phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 B luật dân sự.

Trư ng h p quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự, ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, th i hi u thi hành án đư c thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cotton bằng giấy c niêm phong bên trong c : 01 con dao màu đen bằng kim loại dài 21cm, loại dao gấp c đầu nhọn, gấp lại dài 11,5cm; 01 áo sơ mi kẻ caro nh màu xanh ghi KT 0,77 x 0,8, cổ áo c ghi chữ “Milan, Dsigner”; 01 chiếc đi n thoại di đ ng Iphone 4s, v màu đen, đi n thoại đã hư h ng, bị vỡ, nứt làm ba phần gồm: màn hình, ốp lưng, thân máy, trong lắp m t sim Viettel (không ki m tra số sim). (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huy n Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huy n Phú Lương ngày 06/5/2020)

4. Về án ph : Bu c bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm; 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự phúc thẩm và 1.794.273 đồng (M t tri u bảy trăm ch n mươi tư nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng) án ph dân sự sung quỹ Nhà nước.

Bản án phúc thẩm c hi u lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ