- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01 /2019/HS-ST Ngày 23 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam
Ông Nguyễn Anh Kiều
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa:
Bà Lý Hòa - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại hội trường nhà văn hóa tổ dân phố Thanh Xuân 1, phường Phố Cò, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/ TLST-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn C, sinh ngày 02/7/ 1979 tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, và bà Đặng Thị T; Gia đình có tám anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền Sự: Tại Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 02/01/2018 của UBND phường T, thành phố S quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với Trần Văn C trong thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 02/4/2018.
Tiền án: Có 02 tiền án.
Tại bản án số 16/2008/HSST ngày 20/5/2008, Tòa án nhân dân thị xã Sông Công xử phạt Trần Văn C 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra tù ngày 04/7/2014.
+ Tại bản án số 25/2016/HSST ngày 27/6/2016, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt Trần Văn C 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra tù ngày 29/06/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên- bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Ông Nguyễn Đình N sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1976/ vắng mặt. Trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1943/ vắng mặt. Trú tại: Xóm K xã Tr, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Người làm chứng: 1. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1971/ vắng mặt. Trú tại: Tổ dân phố T1, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. 2. Ông Lý Thanh X sinh năm: 1978/ vắng mặt. Trú tại: Tổ dân phố T1, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 05/10/2018 Trần Văn C đi bộ ở hành lang đường Cách mạng tháng Tám, khi đi qua đoạn tổ dân phố Thanh Xuân 1, phường Phố Cò, thành phố Sông Công thì thấy cửa nhà anh Nguyễn Văn Th có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu xanh, biển kiểm soát 20H6 – 8540 của ông Nguyễn Đình N và bà Nguyễn Thị H, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố S đang dựng ở tư thế đầu xe quay vào trong nhà, đuôi xe quay ra đường, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. C quan sát thấy xung quanh không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. C quay lại vị trí chiếc xe, ngồi lên xe, mở chìa khóa điện, đề nổ máy xe điều khiển xe đến địa bàn thị xã Phổ Yên tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 3 thuộc xóm K, xã Tr, thị xã P, C gặp và hỏi một người nam giới (C không quen biết, không biết tên tuổi địa chỉ người này) tìm nơi cầm cố xe mô tô thì người này dẫn C đến gặp ông Nguyễn Minh H (Sinh năm 1943, trú tại xóm K, xã Tr, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên). Khi gặp ông Hào, C nói chiếc xe mô tô của C và thế chấp để vay số tiền 600.000 đồng, ông H kiểm tra xe thấy không có dấu vết phá ổ khóa điện nên đồng ý cho C thế chấp xe vay số tiền 600.000 đồng, số tiền trên C đã sử dụng để tiêu xài cá nhân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2018, của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sông Công, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL, biển kiểm soát 20H6 – 8540, màu xanh, số khung: 053585, số máy: VA2-053585, có giá trị 2.200.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL, biển kiểm soát 20H6 – 8540 là tài sản C chiếm đoạt, ông Nguyễn Minh H đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Điều tra để trả lại cho ông Nguyễn Đình N quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Đình N bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 01/KSĐT ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn C ra trước TAND thành phố Sông Công để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLSHS xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định. Tuyên bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác.
Như vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 05/10/2018 Trần Văn C đi qua đoạn tổ dân phố T1, phường P, thành phố S, khi qua cửa nhà anh Nguyễn Văn Thuận đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu xanh, biển kiểm soát 20H6 – 8540 của ông Nguyễn Đình N và bà Nguyễn Thị H đang dựng tại cửa nhà anh Nguyễn Văn Thuận. C điều khiển xe vừa trộm cắp được đến địa bàn thị xã Phổ Yên gặp ông Nguyễn Minh H thế chấp xe vay số tiền 600.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
Bị cáo Trần Văn C đã có hai tiền án và đã tái phạm, do vậy hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn C đã phạm vào Tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…g) Tái phạm nguy hiểm”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 50.000.000 đồng”.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS viện dẫn ở trên.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn C là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã nhiều lần phải đi cải tạo về tội trộm cắp tài sản nhưng không hối cải, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào vì các tiền án của bị cáo đã là tình tiết định tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường khoản tiền nào nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào: Điểm g, khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2018.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND TP. Sông Công; - Cơ quan CSĐT CA TP. Sông Công; - CQTHAHS Công an TP. Sông Công; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - CC T.H.A DS TP. Sông Công; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Nhƣờng |