- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh P - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HSST Ngày: 18/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Du n, ng B i Đ ng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đ ng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 n m 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2017/HSST, ngày 22 tháng 12 n m 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 n m 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh P; tên gọi khác: T; sinh n m 1995; tại: Sóc Tr ng; nơi đ ng ký thường trú: Ấp A, thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Sóc Tr ng; nơi tạm trú: Tổ X, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; v n hóa: 6/12; nghề nghiệp: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: Kh ng; con ng Nguyễn V n X, sinh n m 19 0; hiện sinh sống tại huyện M, tỉnh Sóc Tr ng; con bà Nguyễn Thị T, sinh n m 1969; hiện sinh sống tại thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Sóc Tr ng; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có ba anh em; v , con: Chưa có; tiền án: Kh ng; tiền sự: Ngày 02/6/2016 bị C ng an thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Sóc Tr ng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/9/201 , hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C ng an thành phố Bảo Lộc, (Có m t).
Người bị hại: Ông Hoàng Xuân Ph, sinh n m 1953; Địa chỉ: phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (Có m t).
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:
Chị Đường Thị H, sinh n m 198 ; Địa chỉ: Phường X, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 26/9/201 , Nguyễn Thanh P đi bộ tới h m X đường T, phường L, thành phố Bảo Lộc mục đích để hái ổi n; khi quan sát thấy nhà ng Hoàng Xuân Ph kh ng khóa cửa phía sau thì P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Để thực hiện hành vi P trèo qua tường rào đi vào nhà bằng cửa phía sau, thấy v chồng ông Ph đang ngồi xem ti vi ở phòng khách thì P l n vào phòng ng trộm cắp đư c 01 điện thoại hiệu Xiaomi để ở đầu giường; sau đó P đi xuống bếp trộm cắp đư c 01 điện thoại hiệu Sony Xperia C5303 để trên kệ bếp rồi mang về ch ở tại Tổ X, phường L cất giấu. Đến chiều c ng ngày P nhờ Trần Minh T, (là người ở c ng với P) mang chiếc điện thoại Sony Xperia đi bán cho chị Đường Thị H đư c 300.000đ. Số tiền này T đưa lại cho P tiêu xài hết. Đối với chiếc điện thoại hiệu Xiaomi vì kh ng mở đư c khóa màn hình, s mang đi bán s bị lộ nên P cất giấu tại nơi ở, sau đó bị Cơ quan điều tra thu hồi.
Theo Kết luận định giá số 5/KL-HĐĐG, ngày 02/10/201 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc thì hai chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt c a ng Ph có tổng giá trị là 3.605.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS, ngày 22 tháng 12 n m 201 , Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên tòa h m nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 12 đến 15 tháng tù.
Bị cáo P khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng c a Viện kiểm sát nêu, bị cáo kh ng thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, bị cáo thấy đúng với tội c a mình, xin đư c giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại là ông Hoàng Xuân Ph trình bày, việc bị cáo P trộm cắp tài sản c a gia đình ng đúng như Cáo trạng đã nêu, hiện nay ng đã nhận lại tài sản và kh ng yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào trưa ngày 26/9/201 , bị cáo P thực hiện hành vi vào nhà bị hại là ông Ph trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sony Xperia, có tổng giá trị tài sản là 3.605.000đ. Đối chiếu lời khai bị cáo, lời khai bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá trong tố tụng hình sự có đ c n cứ khẳng định hành vi c a bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật; hành vi trên kh ng những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản c a c ng dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Về nhân thân thì ngày 02/6/2016 bị cáo đã bị C ng an thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Sóc Tr ng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa nộp phạt; vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc mới đ sức r n đe. Tuy nhiên c ng thấy rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Trong vụ án này còn có anh Trần Minh T là người đã giúp bị cáo mang chiếc điện thoại đi bán, và chị Đường Thị H là người đã mua chiếc điện thoại trên. Tuy nhiên, tại thời điểm P nhờ anh T mang điện thoại đi bán c ng như khi chị H mua chiếc điện thoại trên thì cả anh T và chị H đều kh ng biết nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có, nên kh ng truy cứu trách nhiệm hình sự với anh T và chị H là phù h p.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu hồi hai chiếc điện thoại trả lại cho ông Hoàng Xuân Ph, ông Ph kh ng yêu cầu gì nên kh ng đề cập đến. Đối với chị Đường Thị H, đã mua chiếc điện thoại trên với giá 300.000đ sau đó bị Cơ quan điều tra thu hồi, nay chị c ng kh ng yêu cầu bị cáo bồi thường nên kh ng đề cập đến.
Trong quá trình khởi tố điều tra, kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố bị cáo ra trước tòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã nghiêm túc thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 12 (Mười hai) tháng t . Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017.
2. Về áp phí: C n cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án ho c bản án đư c niêm yết theo quy định pháp luật tố tụng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND TP Bảo Lộc - Người tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Khắc Quảng |