vanban.org

Bản án 01/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Lý Thị Bích L 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Giao Lý Thị Bích L cho Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú (Phường 14, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị Bích L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HSST
Ngày: 09-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hoàng Minh;

2. Bà Trần Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận H tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan.

Trong các ngày 04 và 09 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2017/HSST ngày 31 tháng H năm 2017 đối với bị cáo:

Lý Thị Bích L (tên gọi khác: không); Sinh năm 1991 tại K; Giới tính: nữ; Hộ khẩu thường trú: Cư Chánh 1, phường T, thị xã H, tỉnh T; Chỗ ở: 7A/43/25 TT, Phường 14, Quận H, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: thiết kế, đồ họa; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lý A S và bà Bùi Thị Xuân L; Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Trần Nhật D, sinh năm 1980, vắng mặt.

Trú tại: 1H4 C2 đường 11, phường Đ, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

NLQ1: Ông Phan Anh T, sinh năm 1979, vắng mặt.

Trú tại: 28 HV, Phường 1, Quận H, Tp. Hồ Chí Minh.

- Ông Phan Vũ Đ, sinh năm 1993, vắng mặt.

Trú tại: 87/83/14 NSS, Phường 15, quận TB, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lý Thị Bích L bị Viện kiểm sát nhân dân Quận H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 16/5/2017, Lý Thị Bích L đem chiếc máy tính xách tay của mình đến cửa hàng sửa chữa máy tính của anh Trần Nhật D tại địa chỉ 125/2C đường HH, Phường 12, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để cài đặt máy. Đến khoản 17 giờ cùng ngày, L nhìn thấy chiếc máy tính hiệu Apple Macbook màu vàng để trên kệ tại cửa hàng nên L nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, lợi dụng lúc không có ai để ý, L lấy chiếc túi chống sốc máy tính của mình để lên trên chiếc máy tính hiệu Apple Macbook màu vàng rồi dùng tay trái cầm chiếc máy tính hiệu Apple Macbook màu vàng và chiếc túi chống sốc máy tính bỏ vào ba lô, tiếp đó L lấy chiếc máy tính của mình đã sửa chữa xong rồi rời khỏi cửa hàng. Sau khi lấy được chiếc máy tính hiệu Apple Macbook màu vàng, L đem đến cửa hàng của anh Phan Vũ Đ tại địa chỉ 990 đường AC, Phường 14, quận TB bán với giá 300 USD và 300.000 đồng.

Ngày 17/5/2017, anh Trần Nhật D kiểm tra lại dữ liệu camera tại cửa hàng thì phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của L nên đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an Phường 12, Quận H. Công an Phường 12, Quận H đã đưa L cùng tang vật về trụ sở làm rõ, lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Quận H để làm rõ.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Quận H, L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời chỉ điểm nơi bán chiếc máy tính xách tay hiệu Apple Macbook màu vàng để cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận H thu hồi và L đã nộp lại số tiền 7.000.000 đồng từ việc bán chiếc máy tính cho anh Phan Vũ Đ.

Theo kết luận định giá tài sản số: 352/HĐĐG ngày 19/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận H xác định: 01 máy vi tính xách tay hiệu Apple Macbook, màu vàng, model 2015, CPU Dual-core 1.1 GHZ, Ram 8 GB, SSD 256 GB, màn hình 12 inches, đã qua sử dụng, còn hoạt động được, không phụ kiện kèm theo, có giá trị 14.000.000 đồng.

Ngày 13/H/2017, Công an Quận H lập biên bản trả 01 máy tính xách tay hiệu Apple Macbook – số seri: C02QLDMNGF84, màu Gold cho chủ sở hữu là anh Phan Anh Toàn.

Số tiền 7.000.000 đồng L nộp từ việc bán chiếc máy tính. Qua xác minh anh Đ không biết chiếc máy tính hiệu Apple Macbook do L mang bán là tài sản phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Quận H lập biên bản trả lại tiền cho anh Đ.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Lý Thị Bích L 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, số Imei 353314073654921; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 14-5480 Code: 8551636778; 01 máy tính hiệu Macbook Air màu bạc; 01 xe mô tô biển số 75G1 – 228.96, nhãn hiệu: Honda, màu sơn; trắng nâu, số máy” JF51E0342018, số khung: RLHJF5120FY121539 là tài sản riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 93/CTr - VKS ngày 30/H/2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận H đã truy tố bị cáo Lý Thị Bích L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận H đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Thị Bích L phạm tội trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lý Thị Bích L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lý Thị Bích L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu và chứng cứ khác trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lý Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, tài sản chiếm đoạt có giá trị 14.000.000 đồng. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất vụ án; mức độ phạm tội và nhân thân bị cáo để có mức án xử phạt tương ứng.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên chưa gây thiệt hại về tài sản, người bị hại cũng có đơn đề nghị bãi nại. Vì thế khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo, không cần thiết buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, đồng thời miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chủ sở hữu ông Phan Anh T đã nhận lại tài sản do cơ quan điều tra trao trả và không có yêu cầu về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lý Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lý Thị Bích L 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao Lý Thị Bích L cho Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú (Phường 14, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2009 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo)./.

Cỡ chữ