- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HSST Ngày 29 - 01- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trọng Thế
Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/HSST, ngày 09 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Bị cáo Trần Văn T - sinh ngày 24 tháng 05 năm 1997 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 9, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Gia A và bà Trần Thị H; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: ngày 13/10/2017 bị Công an huyện Yên Thành xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp(tiền sự này làm căn cứ để khởi tố, truy tố đối với bị cáo, vì phạm tội giá trị tài sản dưới mức quy định (chỉ 400.000 đồng); tạm giữ: không, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1950
Địa chỉ cư trú: xóm 12, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 13 giờ ngày 15/10/2017 Trần Văn T điều khiển xe máy mượn của bạn T để đi về nhà mình, sau đó T một mình đi đến xóm 12 xã S với mục đích trộm cắp gà để bán lấy tiền tiêu xài. Khi T đi ngang nhà ông Nguyễn Hữu T thấy nhà khóa cửa nên đã lợi dụng sơ hở tiến đến gần chuồng gà và bắt trộm 2 con gà trống màu đen, vàng rồi bỏ vào bao tải định lên xe tẩu thoát thì đúng lúc ông T đi làm về phát hiện hô hoán. T và ông T giằng co với nhau, sau đó T bỏ chạy thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ, giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.
Ngày 09/11/2017 hội đồng định giá tài sản của UBND huyện Yên Thành kết luận: 1 con gà trống màu vàng, đen có trọng lượng 2,1 kg trị giá 210.000 đồng; 1 con gà trống màu vàng, đen có trọng lượng 1,9 kg trị giá 190.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 400.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 08/VKS-HS ngày 08/01/2018 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Trần Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật xử phạt bị cáo từ 6-9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12-18 tháng. Bị cáo không có tranh luận gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản là 02 con gà của gia đình ông Nguyễn Hữu T trị giá chỉ 400.000 đồng, dưới mức phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do bị cáo đã có 1 tiền sự, bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm vào tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Vì thế, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, xét tính chất phạm tội và giá trị tài sản là không đáng kể nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát cũng là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 138 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định hay thu nhập, bản thân chưa có gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản là 2 con gà có đặc điểm như đã nêu ở trên, không có yêu cầu gì nữa nên miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ: Khoản 1 điều 138; điểm h, p khoản 1 điều 46 BLHS, khoản 1, 2 điều 60 BLHS.
1. Xử phạt: Trần Văn T 6(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia ®×nh bÞ c¸o cã tr¸ch nhiÖm phèi hîp víi chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng trong viÖc gi¸m s¸t, gi¸o dôc bÞ c¸o.
Trong tr êng hîp ng êi ® îc h ëng ¸n treo thay ®æi n¬i c tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 69 LuËt thi hµnh ¸n h×nh sù.
2. Án phí: Căn cứ điều 99 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| N¬i nhËn: - Công an YT - Viện kiểm sát YT - THA h×nh sù; - THA D©n sù; - BÞ c¸o; - Tòa án Tỉnh - Lưu hồ sơ. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ph¹m V¨n Giang |