- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T cùng DDB phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đặng Điền Quốc B v
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH TỈNH KI ÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HSST Ngày 16/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C HÂU THÀNH, TỈNH KI ÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử s
ơ th ẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ T ọa phi ên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Duy Kh ương
2/ Ông Nhâm Đức H ùng
- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang
– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát vi ên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở T
òa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang, xét xử công khai sơ th ẩm vụ án h ình sự thụ lý số:
68/2017/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2017, về tội “Trộm cắp t
ài sản” theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số: 01/QĐXX-ST ngày 03 tháng 01 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Minh T ; sinh năm 1992; HKTT: 155/38 NCT, khu phố 2, ph ư ờng RS, thành phố RG, tỉnh KG; Chỗ ở hiện nay: 106/10/4
LQĐ, khu phố 3, ph ư ờng AB, thành phố RG, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Tr ình độ văn hóa: 6 /12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Minh T 1, sinh năm 1953 (chết) và bà Huỳnh Thị L , sinh năm 1965; Vợ t ên Văn Thị Bảo Th ; sinh năm 1988 và có 02 ngư ời con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng
ày (25/8/2017 cho đến ng ày 31/8/2017 đư ợc cho bảo l ãnh tại ngoại để điều tra
), đến ngày 19/12/2017 bị cáo có h ành vi phạm tội mới n ên bị Công an th ành phố RG, tỉnh KG bắt tạm giam từ ng
ày 19/12/2017 cho đến nay (có mặt)
2/ Đặng Điền Quốc B
; sinh ngày 02/3/1999; HKTT: ấp SĐ, xã VHH, huyện CT, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Thợ mộc ; Trình độ văn hóa: 6 /12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; C on ông Đặng Điền Phong Đ , sinh năm 1981 và bà Trần Ngọc B 1, sinh năm 1980; Tiền án, tiền sự: Không.
Tuy nhiên: Vào ngày 24/3/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh KG, xử phạt 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây th ương tích ”, tại bản án h ình sự s ơ thẩm số: 21/2016/HSST ngày 24/3/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng
ày 25/8/2017 cho đến ng ày 31/8/2017 đư ợc cho tại ngoại để điều tra cho đến nay (có mặt)
3/ Đoàn Vi T2; sinh năm 1997; HKTT: 426 NCT, khu phố 6, ph ư ờng RS, thành phố RG, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6 /12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; C on ông Đoàn Văn H, sinh năm 1973 và bà Trương Ng ọc D , sinh năm 1975; Vợ t ên Đỗ Huyền Tr ; sinh năm 1996.; Tiền án, tiền sự: Không.
Tuy nhiên:
- Vào ngày 10/02/2015 bị cáo bị T òa án nhân dân thành phố RG, tỉnh KG, xử phạt 09 (chín) tháng 02 (hai) ngày tù, về tội “Cố ý gây th ương tích ”, đư ợc trả tự do tại phi ên tòa tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số: 18/2015/HSST ngày 10/02/2015
- Vào ngày 30/5/2017 bị Chủ t ịch Ủ y ban nhân dân phư ờng RS, thành phố RG, tỉnh Ki ên Giang ra quyết định giáo dục x ã phư ờng về h ành vi “Gây rối trật tự công cộng ”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng
ày 29/8/2017 cho đến ngày 31/8/2017 đư ợc cho tại ngoại để điều tra cho đến nay (có mặt)
Ngư ời bị hại: Ông
Phạm Thanh Ph ; sinh năm 1955 (có đơn xin xét x ử vắng mặt)
Trú tại: KP. MP, TT. ML, huyện CT, tỉnh KG.
Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan: Chị Văn Thị Bảo Th ; sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: 106/10/4 LQĐ, KP. 3, P. AB, TP. RG, tỉnh KG .
Ngư ời l àm chứng: Chị Bùi Thị Yến Nh ; sinh năm 1999 (vắng mặt)
Trú tại: Số 50, khu phố 2, P. RD, TP. RG, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đ ư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào khoảng 23 giờ , ngày 24/8/2017 Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô
mang biển kiểm soát 68G1 – 323.00 đến tiệm game 555 ở th ành phố RG để ch ơi game, đến khoảng 01 giờ ng ày 25/8/2017 T đi về, tr ên đư ờng đi T nảy s inh ý định trộm cắp t ài sản đem bán để kiếm tiền ti
êu xài cá nhân nên T điều khiển xe chạy từ hư ớng RG về ML để t ìm nơi tr ộm cắp t ài sản . Khi T chạy xe đến nh à trọ P A của ông Phạm Thanh Ph , thuộc khu phố MP, thị trấn ML, huyện CT, tỉnh Ki ên Giang T nhìn thấy cửa h àng rào, cửa nh à đều mở v à đèn trong nhà mở sá ng. Lúc này, T đậu xe mô tô cập đ ư ờng lộ v à đi bộ v ào trong nhà trọ nh ìn thấy có chiếc điện thoại Iphone 5S màu vàng (vàng gold) của ông Ph đang sạc pin tr ên nền gạch d ư ới b àn để ti vi hiệu Sony, m àu đen, 48in, màng hình phẳng, T rút dây cắm sạc pin ra v à lấy điện thoại bỏ v
ào túi quần, T tiếp tục quan sát t ìm kiếm t ài sản trong nh à để trộm th ì thấy quần d ài của ông Ph đang để tr ên ghế inox, T cầm l ên để lục soát th ì cọc tiền 10.000.000 đồng rơi xuống, T lấy tiền bỏ v ào túi quần v à điều khiển xe chạy về h ư ớng RG. Khi T chạy xe đến T à Niên thì Kha Thanh A điện thoại cho T hỏi có chỗ trộm cắp t
ài sản không cho A đi trộm c ùng, T đồng ý v à hẹn gặp A ở đầu lộ TN. Lúc này, Đặng Điền Quốc B điều khiển xe môtô
mang biển 68T8 – 7971 chở A đến gặp T v à cùng T tiếp tục chạy xe đến nh
à trọ P A, T kêu A vào lấy trộm tivi, c òn B đợi ở ngo ài xe nhưng A không dám vào l ấy trộm ti vi n ên T, B và A chạy quay về h ư ớ ng Rạch Giá, tr ên đư ờng đi T kể cho A v à B nghe vừa lấy trộm trong nhà trọ P A đư ợc 10 triệu đồng v
à 01 cái điện thoại di động Ip
hone 5S. Sau đó, T chạy về Rạch Giá v à đem điện thoại Iphone 5S bán cho một ng ư ời đ àn ông tên Tuấn khoảng 30 tuổi (ch ưa xác đ ịnh đ ư ợc họ t ên, tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 1.500.000 đồng lấy tiền ti êu xài cá nhân hết . Sau khi T bỏ đi, B tiếp tục
chở A đế n công viên An Hòa gặp Đo àn Vi T2, B rủ T 2 đi lấy trộm ti vi thì T2 đồng ý. Lúc này, B điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 68T8 – 7971 chở T 2 quay lại nhà trọ P A để lấy trộm tivi của ông
Ph. Khi đến n ơi T 2 vào nhà trộm ti vi c òn B đậu xe ngồi đợi b ên ngoài. T2 trộm đ ư ợc tivi đem ra cho B, B c ùng T2 đem ti vi trộm đ ư ợc đến nh à của T 2 ở số 426 NCT, khu khố 6, ph ư ờng RS, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Sau đó, T 2 nhờ T kiếm chỗ bán t
ivi giúp với giá l à 10.000.000 đồng , T đồng ý v à lấy tiền trộm đ ư ợc đ ưa cho T 2 mư ợn tr ư ớc tổng cộng l à 6.500.000 đồng , T2 chia lại số tiền n ày cho B là 2.200.000 đồng . Đến khoảng 15 giờ c ùng ngày T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68G1 – 323.00 đến n hà T2 để lấy ti vi đem bán thì bị lực l ư ợng Công an bắt tạm giữ 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 68G1 – 323.00, 01 tivi hiệu Sony, m àu đen, 48in, màng hình phẳng tiền Việt Nam 2.800.000
đồng.
Tại kết luận định giá t
ài sản số : 69/KL-ĐGTS ngày 29 tháng 8 năm 2017 của hội đồng định giá t
ài sản huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang thì 01 điện thoại di động Iphone 5S (16GB) có trị giá l à 3.594.000 đồng và 01 tivi hiệu Sony, m àu đen, 48in, màng hình phẳng có trị giá l à 8.094.000 đồng.
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
- Đối với
01 tivi hiệu Sony, m àu đen 48in, màng hình phẳng v à tiền Việt Nam 2.800.000 đồng đã trả lại cho ngư ời bị hại ông Phạm Thanh Ph.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 68G1
– 323.00, màu xám – đen, số máy: 5C6J149863, số kh ung: C6J0FY149856 đây là xe của Văn Thị Bảo Th vợ bị c
áo Nguyễn Minh T nh ưng khi T s ử dụng xe n ày làm phương ti ện đi trộm cắp t ài sản th ì chị Th không biết n ên đề nghị trả lại cho chủ sở hữu l à chị Th.
- Riêng chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68T8 – 7971 là của cha ruột bị
cáo B tên Đặng Điền Phong Đ nh ưng khi b ị c áo lấy xe chạy đi trộm cắp t
ài sản th ì ông Đ không biết n ên cơ quan đi ều tra không tiến h ành thu giữ.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với bị c áo Đặng Điền Quốc B đ ã giao nộp lại số tiền 2.200.000
đồng và ngư ời bị hại ông Ph đã nhận lại nên không xem xét.
- Đối với bị c áo Nguyễn Minh T đ ã giao nộp th êm 700.000 đồng và bị hại Ph đã nhận lại, c òn điện thoại I phone 5S (16GB) trị giá 3.594.000
đồng thì T đã đem bán với giá 1.500.000 đồng lấy tiền ti êu xài cá nhân hết, đề nghị truy thu số tiền 3.594.000 đồng là tiền trị giá của điện thoại để trả lại cho bị hại Ph. Đồng thời đề nghị tịch thu số tiền 1.500.000
đồng do bị c áo phạm tội m à có sung vào công quỹ nh à nư ớc theo quy định.
- Đối với bị c áo Đoàn Vi T2 đã lấy tiền từ bị c
áo T trộm đ ư ợc l à 4.300.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết n ên nghị truy thu lại số tiền n
ày trả cho bị hại Ph theo quy định.
Riêng đối t ư ợng Kha Thanh A có ý định đi thực hiện h
ành vi trộm cắp t ài sản nh ưng đ ã tự ý nửa chừng chấm dứ
t tội phạm n ên không bị truy cứu trách nhiệm h ình sự. C òn ngư ời đ àn ông tên Tuấn khoảng 30 tuổi nh à ở Rạch Sỏi đ
ã tiêu thụ t ài sản do ng ư ời khác phạm tội m
à có đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra iếp tục xác minh l àm rõ nếu đủ c ơ s ở xử lý sau.
Tại bản cáo tr ạng số : 72/CTr- VKS ngày 14/11/2017 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đặng Điền Quốc B v à Đoàn Vi T2 về tội: “Trộm cắp t
ài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.
Tại phi ên tòa, đại diện Viện kiểm s át nhân dân huyện Châu Th ành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đặng Điền Quốc B v
à Đoàn Vi T2 phạm tội: “Trộm cắp t
ài sản” .
Và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 và Điều 33 B LHS, xử phạt bị cáo
Nguyễn Minh T từ 09 đến 12 tháng tù.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo
Đặng Điền Quốc B từ 07 đến 09 tháng tù.
3/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1
Điều 46 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo
Đoàn Vi T2 từ 09 đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự
đề nghị HĐXX áp dụng Điều
42 BLHS và Điều 589 BLDS năm 2015, xử :
- Buộc bị c áo Nguyễn Minh T phải bồi th ư ờng lại giá trị
chiếc điện thoại di động Iphone 5S theo kết quả định giá l
à 3.594.000 đồng cho ông Phạm Thanh Ph , hiện bị cáo đ ã nộp xong .
- Buộc bị cáo Đo àn Vi T2 trả lại cho ông Phạm Thanh Ph số tiền 4.300.000
đồng.
Về biện pháp t ư pháp áp d ụng Điều 41 Bộ luật h
ình sự v à Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự năm 2015 xử :
- Buộc bị cáo N guyễn Minh T nộp lại số tiền thu lợi bất chính l
à 1.500.000 đồng để nộp
vào ngân sách Nhà nư ớc , hiện bị cáo đ ã nộp xong .
- Trả lại cho chị
Văn Thị Bảo Th 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 68G1 – 323.00, màu xám – đen.
Các bị cáo và ngư ời li ên quan không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận
tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành.
Các bị cáo đ ư ợc nói lời nói
sau cùng, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phi
ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh ư sau:
- Về h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự. Quá tr ình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu n ại về h ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó, các h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan tiền h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phi ên tòa, các bị cáo đ ã thừa nhận to àn bộ hành vi phạm tội của
mình như b ản Cáo trạng đ ã nêu. Lời khai của các bị cáo ph ù hợp lời khai tại C
ơ quan điều tra v à phù hợp với các t ài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s
ơ, th ể hiện: Vì muốn có tiền ti êu xài cá nhân nên vào khoảng 23 giờ, ng ày 24/8/2017 Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô mang biển số 68G1 -323.00 đi từ Rạch Giá đi về hư ớng ML để t ìm tài sản trộm cắp
. Khi T điều khiển xe ngang nh à trọ P A thuộc khu phố MP, thị trấn ML, huyện CT thì Tư ờng phát hiện cửa h
àng rào và cửa nh à đều mở n ên T lén lút đi vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu vàng gold và số tiền 10.000.000 đồng
. Sau khi trộm đ ư ợc t ài sản T điều khiển xe chạy về Tà Niên thì gặp đ ư ợc Đặng Điền Quốc B, T kể lại cho
B nghe là vừa trộm t ài sản ở nh à trọ P A về, nghe vậy B liền rủ Đoàn Vi T tiếp tục quay lại nhà trọ P A lấy trộm th êm 01 tivi hiệu Sony m àu đen 48in màng hình phẳng. Theo kết quả định giá t ài sản th ì chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5S m àu vàng gold mà T lấy trộm có giá trị theo kết quả định giá l
à 3.594.000 đồng, c òn chiếc ti vi hiệu Sony màu đen 48in màng hình phẳng m à B và T lấy trộm có giá trị theo kết quả định giá l à 8.094.000 đồng . Tổng tất cả t ài sản m à ông Ph bị thiệt hại
trong vụ án này là 21.688.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 138
BLHS thì “Ngư ời n ào trộm cắp t ài sản của ng ư ời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến d
ư ới năm mươi tri ệu đồng hoặc d ư ới hai triệu đồng nh
ưng gây h ậu quả nghi êm trọng hoặc đ ã bị xử phạt h ành chính về h ành vi chiếm đoạt hoặc đ
ã bị kết án về tội chiếm đoạt t ài sản, ch ưa đư ợc xoá án tích m à còn vi phạm, th ì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt t
ù từ sáu tháng đến ba nă m”. Như v ậy , việc các bị cáo T, B v à T2 lén lút lấy trộm t ài sản của ông Ph v à giá trị các t ài sản mà các bị cáo lấy trộm đều tr
ên 2.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu th
ành tội “T rộm cắp t ài sản” nh ư đ ã viện dẫn ở tr ên.
Xét về tính chất, mức độ h
ành vi phạm tội của
các bị cáo l à nguy hiểm cho xã hội không những đ ã trực tiếp xâm phạm đến t
ài sản hợp pháp của ng
ư ời bị hại đã đư ợc pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa ph
ương nơi x
ảy ra vụ án . Bản thân các bị cáo l à ngư ời có đầy đủ năng lực nhận thức đ
ư ợc “Trộm cắp tài sản” l à hành vi vi phạm pháp luật. Thế nh ưng , chỉ v ì tham lam, chay lư ời lao động mà lại muốn có tiền ti êu xài cá nhân nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý đột nhập v ào nhà ông Phong để lấy trộm t ài sản, cụ thể l à T lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng và số tiền 10.000.000 đồng
, còn B và T2 thì lấy trộm 01 tivi hiệu Sony m àu đen, 48in màng hì nh phẳng, gây thiệt hại cho ông Ph đến 21.688.000 đồng. Hành vi phạm tội của
các bị cáo không những gây ảnh h ư ởng trực tiếp đến đời sống vật chất của ng
ư ời bị hại
mà còn tạo t âm lý bất an cho ng ư ời dân trong việc bảo quản giữ g
ìn tài sản của m ình. Với h ành vi phạm tội n êu trên, HĐXX nhận định cần có mức án
nghiêm và cần tách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian
để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho x ã hội.
- Xét về t ình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có t ình tiết tăng nặng đư ợ c quy định tại Điều 48 BLHS. Tuy nhi ên, qua hồ s ơ th ể hiện v ào năm 2016 bản thân bị cáo B bị T òa án nhân dân huyện CT xử phạt 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây th ương tích ”, bị cáo T2 bị T òa án nhân dân thành phố RG xử phạt 09 (chín) tháng 02 (hai) ngày tù, về tội “ Cố ý gây th ương tích ” nhưng do khi ph ạm tội bản thân các bị cáo đều l à ngư ời ch ưa thành niên nên không tính án tích đ ối với các bị cáo nh ưng qua đây c ũng cần xem xét về nhân
thân các bị cáo khi l ư ợng h ình mới l à phù hợp.
– Xét về t ình tiết giảm nhẹ: Tại phi ên Tòa các bị cáo đều th ành khẩn khai báo nên cần xem xét áp dụng t ình tiết giảm nhẹ cho
các bị cáo đ ư ợc quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. R
iêng bị cáo B và T sau khi phạm tội hai bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả lại cho ng
ư ờ i bị hại n ên cần áp dụng th êm tình tiết giảm nhẹ cho
các bị cáo đ ư ợc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật
hình sự , ngoài ra cho thấy bị cáo T l à ngư ời có nhân thân tốt không có tiền án
, tiền sự ; phạm tội lần đầu v
à thuộc tr ư ờng hợp ít nghi êm trọng n ên cần áp dụng th êm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đ
ư ợc quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS.
Từ những phân tích n êu trên, HĐXX nghị án thảo luận
sẽ xem xét h ình phạt khi l ư ợng hình để có mức án ph ù hợp với từng h ành vi phạm tội của mỗi bị cáo nhằm có mức án ph ù hợp để cải tạo, giáo dục
các bị cáo chở th ành một công d ân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng v à Nhà nư ớc.
- Xét đề nghị của vị đại diện VKS tại phi
ên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l
à có căn cứ pháp luật n ên HĐXX ghi nhận để xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phi
ên Tòa ngư ời bị hại ông
Phạm Thanh Phcó đơn xin xét x ử vắng mặt nh ưng trong đơn ông Ph có th ể hiện rỏ l à ông yêu cầu bị cáo T bồi th ư ờng lại giá trị chiếc điện thoại
Iphone 5S màu vàng theo kết quả định giá l à 3.594.000 đồng v à yêu cầu bị cáo T 2 trả lại cho ông số tiền 4.300.000 đồng, ngo ài ra ông Ph không yêu cầu bồi th ư ờng g ì thêm, các bị cáo đồng ý b ồi th ư ờng theo y êu cầu của ông Ph n ên HĐXX ghi nhận để xem xét.
- Về biện pháp t ư pháp:
7.1 Đối với số tiền 1.500.000 đồng đây l
à tiền thu lợi bất chính
mà bị cáo T có đư ợc từ h ành vi trộm cắp n ên căn cứ v ào Điều 41 BLHS v à Điều 106 BLTTHS năm 2015 cầ n buộc T nộp v ào ngân sách nhà nư ớc l à phù hợp.
7.2 Đối với 01 tivi hiệu Sony, m àu đen, 48in, màng hình phẳng v à tiền Việt
Nam 2.800.000 đồng đ ã thu giữ của T . Trong quá trình đều tra đ ã chứng minh đư ợc các t ài sản n ày là của ông Phạm Thanh Ph nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành đã trao trả lại các t ài sản tr ên cho ông Ph. Xét việc trao trả các t ài sản tr ên là phù hợp với qui định pháp luật n
ên HĐXX không xem xét.
7.3 Đối với 01 xe môtô nh ãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 68G1
– 323.00, màu xám – đen đây là xe mà T dùng để l àm phương ti ện phạm tội
. Trong quá trình điều tra đ ã chứng minh đ ư ợc xe này là của chị Văn Thị Bảo Th (vợ bị c áo) mua và làm chủ sở hữu việc T lấy chiếc
xe trên làm phương ti ện đi trộm cắp th ì chị Th hoàn toàn không biết v à tại t òa hôm nay chị Th y êu cầu đ ư ợc nhận lại chiếc xe trên để l àm phương ti ện đi lại, căn cứ v ào Điều 41 BLHS v à Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần xử trả lại chiếc xe tr
ên cho chị Th l à phù hợp.
7. 4 Đối với chiếc
xe môtô mang biển kiểm soát 68T8 – 7971 mà bị cáo Bả o dùng làm phương ti ện phạm tội. T rong quá trình điều tra đ ã chứng minh đ ư ợc chiếc xe n ày là của ông Đặng Điền Phong Đ đứng t ên chủ sở hữu, việc B lấy xe làm phương ti ện trộm cắp ông Đ ho àn toàn không biết n ên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành không tiến h ành thu giữ là phù hợp theo quy định pháp luật n ên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Xử buộc
các bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí H
ình sự s ơ thẩm v à án phí Dân sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đặng Điền Quốc B v
à Đoàn Vi T2 phạm tội: “Trộm cắp t
ài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 v à Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo
Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng
ày 19/12/2017, bị cáo đ ư ợc khấu trừ thời gian tạm giữ trư ớc ( từ ng ày 25/8/2017 đến ng ày 31/8/2017).
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo
Đặng Điền Quốc B
07 (bảy) tháng tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng
ày bị cáo đi chấp h ành án, bị cáo đ ư ợc khấu trừ thời gian tạm giữ trư ớc ( từ ng ày 25/8/2017 đến ng ày 31/8/2017).
3/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1
Điều 46 ; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 33 BL HS, xử phạt bị cáo
Đoàn Vi T2 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng
ày bị cáo đi chấp h ành án, bị cáo đư ợc khấu trừ thời gian tạm giữ
trư ớc ( từ ng ày 29/8/2017 đến ng ày 31/8/2017).
Về trách nhiệm dân sự áp dụng
Điều 42 Bộ lu ật h ình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, xử buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải bồi th ư ờng cho ông Phạm Thanh Ph số tiền 3.594.000 đồng , bị cáo đ ư ợc khấu trừ to
àn bộ số tiền tr
ên theo biên lai thu tiền số: 05510 ng ày 12/01/2017 của Chi cục Thi h ành án dâ n sự huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang và Đoàn Vi Tính trả lại cho ông Phạm Thanh Ph số tiền 4.300.000 đồng.
Về biện pháp t ư pháp áp d ụng Điều 41 Bộ luật h ình sự v à Điều 106 Bộ luật
tố tụng h ình sự năm 2015 , xử:
- Trả lại cho chị Văn Thị Bảo Th 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 68G1 – 323.00, màu xám – đen.
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T nộp v
ào ngân sách nhà nư ớc số tiền 1.500.000 đồng , bị cáo đ ư ợc khấu trừ to
àn bộ số tiền tr ên theo biên lai thu tiền số: 05510 ngày 12/01/2017 của Chi cụ c Thi hành án dân sự huyện Châu Th ành, tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng tr ên hiện Chi cục Thi h ành án dân sự huyện Châu Th ành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số:
05 ngày 14/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành.
Về áp phí áp dụng khoản 2
Điều 99 BLTTHS và Điều 2 3 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử buộc
các bị cáo Nguyễn Minh T, Đặng Điền Quốc
B và Đoàn Vi T2 mỗi ng ư ời phải nộp 200.000
đồng tiền án phí H ình sự s ơ th ẩm . Bị cáo T 2 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Dân sự s
ơ th ẩm.
Báo cho các bị cáo và ngư ời có quyền lợi
, nghĩa vụ li ên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ng ày kể từ ng ày tuyên án sơ th ẩm. Báo cho ngư ời bị hại vắng mặt tại phi
ên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận hoặc ni êm yết bản án.
Trư ờng hợp quyết định đ
ư ợc thi h ành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 th
ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thỏ
a thuận thi h ành án, quyền y êu cầu thi hành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b v à 9 Luật Thi h ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi h ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi h ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nh ận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
- TAND tỉnh Ki ên Giang;
| - Sở t ư pháp t ỉnh Ki ên Giang; - VKSND huyện Châu T hành; - Công An huyện Châu Th ành; - Chi cục THADS huyện Châu Th ành; - Bị cáo, bị hại v à NQL; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ Tọa phi ên Tòa Nguyễn Thanh Phong |