vanban.org

Bản án 01/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài s n”.

Hình phạt: Áp dụng Điều 33; điểm g, h, p kho n 1 Điều 46; kho n 1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự

Số: 01/2018/HS-ST

Ngày: 18/01/2018

T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CẦN GI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TH NH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Trương Văn Lộc Bà Lê Thị Nga hư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2017/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Hoàng S (tên gọi khác: Đ); sinh ngày 20 tháng 12 năm 1995 tại Thành phố H; hộ khẩu thường trú: Số 404/2, Tổ 8, khu phố P, thị trấn C, huyện G, Thành phố H; chổ ở hiện nay: Số 404/2, Tổ 8, khu phố P, thị trấn C, huyện G, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh D – sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị Ngọc T – sinh năm: 1975; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/6/2017 Công an thị trấn Cần Thạnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giam ngày 09/11/2017 đến nay. Bị cáo được trích xuất và có mặt tại phiên tòa. - Bị hại: 1/ Bà Hồ Thị Ngọc T, sinh năm: 1987 (vắng mặt – có đơn) Địa chỉ: Số 143/2A khu phố A, thị trấn C, huyện G, Thành phố H. 2/ Ông Nguyễn Thành A, sinh năm: 1984 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: Số 1345, ấp Đ, xã L, huyện G, Thành phố H. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phan T, sinh năm: 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 1228/22 ấp Đ, xã L, huyện G, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Kho ng 12 giờ 30 phút ngày 17/9/2017, anh Nguyễn Thành A điều khiển xe mô tô biển số: 51F1-7309, loại xe Wave do Trung Quốc s n xuất đến đậu trên lề đường phía trước quán lẩu dê Phan Thiết thuộc ấp L, xã H, huyện G rồi vào tìm chủ quán là anh Nguyễn Phan T (bạn anh A) nhờ giữ dùm xe, anh Tt nhận lời. Sau khi gửi xe, anh A đi xe buýt đến xã B, huyện G. Đến kho ng 13 giờ cùng ngày, bị cáo Nguyễn Hoàng S đang đi trên xe buýt, nhìn vào quán lẩu dê P thì thấy xe máy của anh A đậu trên lề đường, không ai trông giữ. Bị cáo n y sinh ý định chiếm đoạt tài s n nên kêu xe buýt dừng lại, đi đến vị trí chiếc xe. Bị cáo quan sát thấy không có ai nên dùng tay rút dây điện nguồn ổ khóa rồi ngồi lên xe dùng chân đạp khởi động máy, chạy về nhà bị cáo ở thị trấn C lấy nón b o hiểm rồi điều khiển xe vừa trộm được chạy về hướng Quận 4, Thành phố H để mua ma túy sử dụng. Khi bị cáo chạy xe gần đến bến phà B thì anh Thành A đang ngồi uống nước gần cổng phà phát hiện xe của mình đang bị một thanh niên lạ mặt điều khiển nên đuổi theo đến bến phà thì giữ được bị cáo S cùng chiếc xe và trình báo Công an xã B đến gi i quyết. Theo biên b n định giá tài s n số: 25/2017/BB.ĐG.TSĐG ngày 21/9/2017 của Hội đồng định giá tài s n trong tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe Wave biển số: 51F1-7309 có giá trị là 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tại cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện G, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô loại Wave do Trung Quốc s n xuất, sơn màu đỏ, biển số: 51F1-7309 đã qua sử dụng; 01 nón b o hiểm, màu đen trắng không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Tất c vật chứng đã được tr lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thành A và Nguyễn Hoàng S. Tại b n Cáo trạng số 01/CTr -VKS, ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, cùng với các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm g, h, p kho n 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. - Trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Thành A và chị Hồ Thị Ngọc T không yêu cầu. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng S không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa: - Bị cáo Nguyễn Hoàng S khai nhận: Kho ng 13 giờ ngày 17/9/2017 bị cáo đang đi trên xe buýt hướng về phà B, khi đi ngang quán lẩu dê Phan T (thuộc xã L, huyện G, Thành phố H) thì bị cáo thấy 01 xe máy đang đậu trên lề đường, không ai trông giữ. Bị cáo n y sinh ý định chiếm đoạt tài s n nên kêu xe buýt dừng lại. Sau khi xuống xe, bị cáo đi đến vị trí chiếc xe máy đang đậu. Bị cáo quan sát không thấy ai nên dùng tay rút dây điện nguồn ổ khóa rồi ngồi lên xe dùng chân đạp khởi động máy xe. Khi lấy được xe, bị cáo chạy về nhà ở thị trấn C lấy nón b o hiểm rồi điều khiển xe vừa trộm được chạy về hướng Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy sử dụng. Khi bị cáo chạy xe gần đến bến phà B thì bị anh Thành A là chủ sở hữu phát hiện và giữ lại.

Bị cáo Nguyễn Hoàng S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n hợp pháp của người khác. Quyền sở hữu tài s n của mỗi người được pháp luật thừa nhận và b o hộ, bất kỳ ai xâm phạm đến tài s n của người khác trái pháp luật đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 là hoàn toàn có căn cứ. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: - Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n hợp pháp của người khác. Bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ qu n lý tài s n đã thực hiện hành trộm cắp tài s n của người khác phục vụ cho lợi ích cá nhân mình. Bị cáo hiểu rõ hành vi của b n thân là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, lười lao động và nghiện ma túy bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội, mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Qua đó cũng thấy được ý thức xem thường và bất chấp pháp luật của bị cáo nên cần thiết ph i áp dụng hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết ph i áp dụng hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. - Về nhân thân: + Tiền sự: Ngày 28/6/2017 Công an thị trấn Cần Thạnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. + Tiền án: Không có. - Về tình tiết tăng nặng: Không có. - Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; trong quá trình xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm g, h, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cần ph i áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện c i tạo, giáo

dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. - Đối với vật chứng trong vụ án, cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã trao tr lại cho chủ sở hữu là có căn cứ và phù hợp pháp luật. - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng S ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài s n”. 2. Hình phạt: Áp dụng Điều 33; điểm g, h, p kho n 1 Điều 46; kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2017. 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo b n án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc niêm yết b n án.

Cỡ chữ