- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò V H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò V H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 01/2017/HSST Ngày 27/10/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bùi Việt Cường và ông Cà Văn Hùng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Tạ Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2017/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Lò V H, sinh ngày 10/11/1986, tại Chiềng Ân, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản PXH, xã CA, huyện ML, tỉnh SL; chỗ ở hiện nay: Bản NH, xã CC, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: La Ha; con ông Lò Văn L, sinh năm 1959, con bà Lò Thị L, sinh năm 1964; có vợ là Lò Thị L, sinh 1993, có 02 con, lớn sinh 2013, nhỏ sinh 2016; Tiền án: Tại bản án số: 03/2015/HSST ngày 03/11/2015 của Tòa án huyện ML đã xử phạt Lò V H 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích), tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2017; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Nguyên đơn dân sự: CT NP. Người đại diện theo ủy quyền ông Trần Đình S, chức vụ: Chỉ huy trưởng công trình thủy lợi – thủy điện NP, địa chỉ: Bản NH, xã CC, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh LVH, sinh năm 1977, trú tại: Bản PXH, xã CA, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.
Anh QVT, sinh năm 1985, trú tại: Bản A, xã CH, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Lò V H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 22 giờ 30 ngày 12/6/2017 Lò V H, sinh ngày 10/11/1986, ở Bản NH, xã CC, huyện ML, tỉnh SL. Đi đến Trạm nghiền của Công ty NP mục đích để trộm cắp. Khi đến thấy nhà kho không có người trông coi, thấy bên cạnh cửa kho một chiếc pa lăng xích màu vàng, đen làm bằng sắt, một chiếc kích ôtô màu đỏ Huấn lấy đem giấu và quay lại giật cửa vào trong kho lấy một cuộn dây hàn dài 35m, một chiếc máy mài màu xanh. Sau đó mang về nhà cất giấu, đến khoảng 08 giờ 0 ngày 13/6/2017 Lò V H mang chiếc pa lăng xích màu vàng sang nhà LVH, sinh năm 1977, trú tại: Bản PXH, xã CA, huyện ML, tỉnh SL, nói với Hoa là của Huấn muốn bán, Hoa đã mua với giá 500.000 đồng. 14/6/2017 Lò V H đi nhờ xe của Hoàng Văn H ở bản N, xã Chiềng H, huyện ML, tỉnh SL, khi đi nhờ Huấn mang theo chiếc kích, nói với H do con bị ốm cần tiền mang đi bán, H cho đi nhờ và đưa Huấn đến nhà QVT, sinh năm 1985, trú tại: Bản A, xã CH, huyện ML, tỉnh SL, Tuấn không biết là do trộm cắp mà có, đã mua giá 300.000 đồng. Số tiến bán tài sản Huấn đã chi tiêu hết.
Sau khi phát hiện mất tài sản CT NP huyện ML, tỉnh SL là chủ sở hữu có đơn trình báo.
Công an phát hiện thu giữ vật chứng:
01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m và 01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA, đều qua sử dụng, do Lò V H tự giác giao nộp;
01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO, qua sử dụng, do LVH tự giác giao nộp;
01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn, qua sử dụng, do QVT tự giác giao nộp.
Ngày 03/7/2017 Hội đồng định giá xác định: 01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m; 01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA; 01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO; 01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn của Công ty thủy điện NP, huyện ML, tỉnh SL trị giá là 8.258.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Đại diện hợp pháp của Công ty NP có đề nghị xin lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Đối với anh LVH là người mua chiếc pa lăng xích giá 500.000 đồng và anh QVT người mua chiếc kích ôtô giá 300.000 đồng, đều không biết là do trộm cắp mà có, nên là người có quyền lợi liên quan và đã được bị cáo bồi thường trả cho anh LVH số tiền 500.000 đồng, anh QVT 300.000 đồng.
Đối với Hoàng Văn H qua điều tra xác minh, không liên quan đến việc phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo: Lò V H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản cáo trạng số: 553/KSĐT ngày 18 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh SL truy tố bị cáo: Lò V H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự;
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò V H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò V H từ 09 đến 16 tháng tù. Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo;
Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho Công ty NP huyện ML, tỉnh SL: 01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m; 01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA; 01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO; 01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn;
Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường trả cho anh LVH số tiền 500.000 đồng, anh QVT 300.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn dân sự Công ty NP và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh LVH, anh QVT đều đề nghị được xét xử vắng mặt, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lò V H thừa nhận: Ngày 12/6/2017 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m; 01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA; 01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO; 01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn của Công ty thủy điện NP, huyện ML, tỉnh SL trị giá là 8.258.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn trình báo của nguyên đơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 8.258.000 đồng của bị cáo Lò V H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với Bị cáo do không có tài sản.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo: Là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội do đó Bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tích cực bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lò V H đã bị kết án theo bản án số: 03/2015/HSST ngày 03/11/2015 của Tòa án huyện ML đã xử phạt Lò V H 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích), nay tiếp tục phạm tội là tái phạm theo quy định của khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Hình sự, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho Công ty NP huyện ML, tỉnh SL: 01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m; 01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA; 01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO; 01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn.
Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường trả cho anh LVH số tiền 500.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo và gia đình nộp bồi thường cho anh QVT 300.000 đồng. Anh Hoa, anh Tuấn không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với Hoàng Văn H qua điều tra xác minh, không liên quan đến việc phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lò V H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò V H 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/7/2017.
Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho Công ty NP huyện ML, tỉnh SL:
01 cuộn dây hàn điện màu sẫm đen loại 1x35, có chiều dài 35m;
01 chiếc máy mài loại phi 100, có màu xanh đen, nhãn hiệu NAKITA;
01 chiếc pa lăng xích màu vàng đen loại 2 tấn, nhãn hiệu NITTO;
01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn.
(4 khoản đều qua sử dụng).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.
Chấp nhận việc Công ty NP không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường trả cho anh LVH số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng);
Trả cho anh QVT 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Theo biên lai thu số 002338 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.
Anh H, anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc Lò V H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/10/2017. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- TAND tỉnh SL;
- Sở tư pháp tỉnh SL;
- VKSND huyện ML (2);
- Công an huyện ML;
- THAHS;
- Chi cục THA dân sự huyện ML;
- Bị cáo;
- Nguyên đơn dân sự;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Nguyễn Minh Tuấn
- Lưu: Hồ sơ, án văn. TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ML
Độc Lập – Tự Do – Hạnh phúc
_____________________
TỈNH SL
___________
ML, ngµy 01 th¸ng 12 n¨m 2017
Số: 01/TB-TA
THÔNG BÁO
Sửa chữa, bổ sung bản án
Căn cứ bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2017/HSST-ST ngày 27 tháng 10 năm 2017.
Xét thấy: Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2017/HSST-ST ngày 27 tháng 10 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện ML cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Tại phần đầu của bản án: Trang 01 ghi “Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường và ông Cà Văn Hùng”.
Nay sửa chữa, bổ sung: “Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Việt Cường và ông Cà Văn Hùng”.
Tại phần Quyết định của bản án: Trang 05 ghi “01 kích ôtô màu đỏ loại 35 tấn, hình trụ tròn”.
Nay sửa chữa, bổ sung: “01 kích ôtô màu đỏ loại 32 tấn, hình trụ tròn”.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh SL; - Sở tư pháp tỉnh SL; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - THAHS; - Chi cục THA dân sự huyện ML; - Bị cáo; - Nguyên đơn dân sự; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Minh Tuấn |