- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 0 /2022/HS-ST Ngày: 20-01-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƢỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Xứng
Bà Hoàng Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2022/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh năm 199 ; tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số 50 K, phường G, thành phố H, tỉnh T.; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn L, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1972; Bị can có 04 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Phú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Anh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do muốn có ma túy để sử dụng nên khoảng 21 giờ ngày 21/7/2021, Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, biển số 93N3 – 2708 đi từ phường T, thành phố Đ đến ấp T, xã P, huyện Đ gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua 00.000 đồng ma túy đá thì người phụ nữ đồng ý. Sau khi T đưa tiền, người phụ nữ đưa cho T 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Đến 21 giờ 5 phút cùng ngày, khi T lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp T, xã P, huyện Đồng Phú thì bị Công an huyện Đồng Phú kiểm tra, phát hiện trong bàn tay trái của T có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng (T khai nhận là ma túy đá) nên Công an huyện Đồng Phú đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với T. Quá trình điều tra, Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên (bút lục số 35; 62 - 67).
Theo Kết luận giám định số 215/2021/ Đ-MT ngày 28/7/2021 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng có trong túi nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4777 gam (bút lục số 0).
Tại bản cáo trạng số 03/CT -VKS ngày 28/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại theo điểm c, khoản 1, Điều 2 9 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 2 9; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 7 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 0,3 93 gam (không phẩy ba bốn chín ba gam) ma túy còn lại sau giám định; Tuyên trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên nên được xác định là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung số 03/CTr-VKS ngày 28 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án; phù hợp với Kết luận giám định số 215/2021/ Đ-MT ngày 28/7/2021 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/7/2021, Nguyễn Anh T đã có hành vi tàng trữ 0, 777 gam (không phẩy bốn bảy bảy bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine tại ấp Phước Tâm, xã Tân Phước, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 9 Bộ luật Hình sự.
Hành vi mà bị cáo Nguyễn Anh T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy, khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của cộng đồng dân cư.
Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Anh T đã thực hiện là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Anh T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất mà Chính phủ cấm sử dụng, tàng trữ, vận chuyển; việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là một trong những những chất gây hủy hại nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức, lối sống, đe dọa đến tính mạng của người người sử dụng, là một trong những tác nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác (như trộm cắp, cướp giật, gây thương tích hoặc giết người....) nhưng vẫn thực hiện như đã nêu trên thể hiện sự coi thường bản thân, gia đình và xã hội, coi thường pháp luật. Do vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm, tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, đang bị tạm giữ, tạm giam nên Hội đồng không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[ ] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 9 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các vấn đề khác và vật chứng:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Anh T vào ngày 18/7/2021, Công an huyện Đồng Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Anh T, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, tách ra xác minh xử lý sau nên Viện kiểm sát không đề cập và Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu đen biển số 93N3 – 2708, Nguyễn Anh T khai mượn của người khác nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc, chủ sở hữu, tách ra xác minh, xử lý sau nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 0,3 93 gam (không phẩy ba bốn chín ba gam) ma túy còn lại sau giám định là tang vật của vụ án nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại các điều 46, 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH1 ngày 30/12/2015 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 2 9; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 0 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2021.
3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 6, 7 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 0,3 93 gam (không phẩy ba bốn chín ba gam)ma túy còn lại sau giám định.
Tuyên trả cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng.
. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH1 ngày 30/12/2015 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Đồng Phú; - VKSND tỉnh Bình Phước; - THADS huyện Đồng Phú; - CA huyện Đồng Phú; - TT lý lịch tư pháp – Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - PV 06 CA tỉnh Bình Phước; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |