vanban.org

Điều 5. Thu bằng Bảng kê nộp thuế: — Văn bản hợp nhất 58/VBHN-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Bộ Tài chính Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Văn bản hợp nhất 58/VBHN-BTC › Phần II › Chương I › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Thu bằng Bảng kê nộp thuế:

1. Tại chi nhánh NHTM:

1.1. Tại chi nhánh NHTM nơi KBNN có tài khoản (tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản chuyên thu):

a) Đối với các khoản thu NSNN (bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt) phát sinh trực tiếp tại chi nhánh NHTM:

- Căn cứ Bảng kê nộp thuế (Mẩu số 01/BKNT ban hành kèm theo Thông tư này) của người nộp NSNN gửi đến, cán bộ thu NSNN của chi nhánh NHTM vào chương trình thu NSNN do NHTM tự phát triển (sau đây viết tắt là TCS-NHTM) nhập đầy đủ các thông tin trên Bảng kê nộp thuế vào chương trình TCS-NHTM để tra cứu, kiểm tra thông tin về người nộp NSNN và làm thủ tục thu tiền mặt từ người nộp NSNN hoặc trích tài khoản của người nộp NSNN để chuyển vào tài khoản của KBNN mở tại chi nhánh NHTM; sau đó, in 02 liên Giấy nộp tiền vào NSNN (Mầu số C1-02/NS đối với trường họp nộp NSNN bằng VNĐ, Mầu số C1-03/NS đối với trưcmg họp nộp NSNN bằng ngoại tệ ban hành kèm theo Thông tư này), ký, đóng dấu lên các liên chứng từ và xử lý: lưu 01 liên tại chi nhánh NHTM đế làm chứng từ hạch toán; 01 liên trả cho người nộp NSNN.

Đối với các khoản thu NSNN trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu, ngay sau khi hoàn tất thủ tục thu tiền từ người nộp NSNN, chi nhánh NHTM kết xuất và truyền thông tin, dữ liệu về số đã thu NSNN sang cơ quan Hải quan (qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan) để làm căn cứ thông quan hàng hoá xuất, nhập khẩu cho người nộp NSNN.

-8 Cuối ngày, chi nhảnh NHTM kết xuất và truyền đầy đủ dữ liệu về sổ đã thu NSNN qua NHTM cho KBNN; đong thời, in 02 liên Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN (Mau sổ C1-06/NS ban hành kèm theo Thông tư này) và xử lý: 01 liên chuyến KBNN ỉàm chứng từ hạch toán; 01 liên ỉưu tại chi nhánh NHTM làm cơ sở đổi chiếu cuối ngày theo quy định.

Trường hợp giữa KBNN và NHTM đã trỉến khai thanh toán song phương điện tử, thì chỉ nhánh NHTM zẻ« 01 liên Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN đế lưu; đong thời, truyền Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN cho KBNN theo quy định về trao đối thông tin giữa KBNN và NHTM. Việc trao đoi thông tin, dữ liệu điện tử sử dụng chữ ký số được thực hiện theo quy định của Luật giao dịch điện tử, Nghị định sổ 35/2007/NĐ-CP ngày 08/3/2007 của Chỉnh phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng và Thông tư sổ 209/2010/TT-BTC ngày 20/12/2010 của Bộ Tài chính quy định giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ KBNN và các quy định hiện hành về giao dịch điện tử.

Trong quá trình kết xuất và ừ"uyền file dữ liệu, nếu xảy ra sự cổ kỹ thuật phải thông báo ngay cho bộ phận hô trợ của các bên cùng phối hợp giải quyết.

8 Gạch đầu dòng này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Thông tư số 32/2014/TT-BTC ngày 11/3/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính, hướng dẫn quy ừình tổ chức phối họp thu Ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại, có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2014.

Trường hợp chưa khắc phục kịp các lỗi về truyền/nhận dữ ỉỉệu giữa KBNN và NHTM, thì chỉ nhảnh NHTM ỉn 01 liên Giấy nộp tiền vào NSNN chuyển đổi từ chứng từ điện tử, kỷ, đóng dấu lên chứng từ và gửi KBNN làm cơ sở hạch toán thu NSNN. Đổi với các khoản thu NSNN mà chi nhánh NHTM đã in Giấy nộp tiên vào NSNN chuyến đoi từ chứng từ điện tử gửi KBNN, thì khi nhận được dữ liệu điện tử và Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN từ NHTM, KBNNphải đổi chiếu đế loại trừ tất cả các chứng từ giấy (chứng từ chuyến đối từ chứng từ điện tử) đã nhận từ NHTM trước khi chuyến vào chương trình thu NSNN tại KBNN.

- Trường hợp người nộp NSNN sử dụng Giấy nộp tiền vào NSNN, thì chi nhánh NHTM cũng nhập đầỵ đủ các thông tin trên Giấy nộp tiền vào NSNN vào chương trình TCS-NHTM để tra cứu, kiểm tra thông tin về người nộp NSNN và làm thủ tục thu tiền mặt từ người nộp NSNN hoặc trích tài khoản của người nộp NSNN để chuyển vào tài khoản của KBNN mở tại chi nhánh NHTM; sau đó, in 02 liên Giấy nộp tiền vào NSNN, ký, đóng dấu lên các liên chứng từ và xử lý các liên chứng từ theo chế độ quy định; đồng thời, hướng dẫn người nộp NSNN trong những lần giao dịch sau sử dụng Bảng kê nộp thuế để nộp NSNN.

- Trường hợp Văn phòng KBNN tỉnh, thành phố hoặc KBNN quận, huyện mở tài khoản chuyên thu tại chi nhánh NHTM, thì toàn bộ số thu NSNN phát sinh trong ngày trên tài khoản chuyên thu phải được thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này.

b) Đối với các khoản thu NSNN được chuyển khoản từ các NHTM nơi phục vụ người nộp NSNN về NHTM nơi KBNN mở tài khoản tiền gửi:

Căn cứ chứng từ thu NSNN chuyển tiếp từ các ngân hàng khác (hoặc chứng từ in phục hôi), chi nhánh NHTM nơi KBNN mở tài khoản tiên gửi nhập đầy đủ các thông tin trên chứng từ vào chương trình TCS-NHTM và làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của KBNN (đối với trường hợp này, chi nhánh NHTM không phải in Giấy nộp tiền vào NSNN) cùng với các khoản thu NSNN phát sinh trực tiếp tại chi nhánh NHTM; sau đó, xử lý cuối ngày tương tự như tiết a điểm 1.1 khoản 1 Điều 5 Thông tư nàyệ

lẵ2Ẽ Tại chi nhánh NHTM thuộc hệ thống NHTM có tham gia phối hợp thu NSNN, song KBNN không mở tài khoản tại chi nhánh NHTM đó:

Căn cứ Bảng kê nộp thuế của người nộp NSNN gửi đến, chi nhánh NHTM nhập đầy đủ các thông tin trên Bảng kê nộp thuế vào chương trình TCS-NHTM để tra cứu, kiểm tra thông tin về người nộp NSNN và làm thủ tục trích tài khoản của người nộp NSNN để chuyển vào tài khoản của KBNN ghi trên Bảng kê nộp thuế, đảm bảo đến cuối ngày toàn bộ các khoản thu NSNN phát sinh trong ngày tại các chi nhánh NHTM đều phải được làm thủ tục chuyển về tài khoản của KBNN; đồng thời, đảm bảo chứng từ chuyển tiền đến chi nhánh NHTM nơi phục vụ KBNN phải có đầy đủ các thông tin như: tên, địa chỉ, mã số thuế của người nộp thuế, nội dung khoản nộp, kỳ thuế, số tờ khai hải quan, loại hình xuất nhập khẩu, số tiền chi tiết theo từng khoản nộp; sau đó, in 02 liên Giấy nộp tiền vào NSNN ký, đóng dấu lên các liên chứng từ và xử lý: lưu 01 liên tại chi nhánh NHTM để làm chứng từ hạch toán; 01 liên trả cho người nộp NSNN.

Trường hợp người nộp NSNN sử dụng Giấy nộp tiền vào NSNN, thì được thực hiện theo quy định tại tiết a điểm 1.1 khoản 1 Điều 5 Thông tư này.

2. Tại Kho bạc Nhà nước:

2.1. Trên cơ sở dữ liệu điện tử về thu NSNN do chi nhánh NHTM chuyển đến, KBNN đối chiếu Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN đã nhận được từ chi nhánh NHTM với dữ liệu tương ứng trong chương trình thu NSNN, đảm bảo khớp đủng các chỉ tiêu theo quy định tại Quyết định số 1027/QĐ-BTC; đồng thời, hạch toán thu NSNN chi tiết theo từng chứng từ nộp tiền (KBNN không phải in phục hồi từng Giấy nộp tiền vào NSNN do NHTM chuyển đến, mà thực hiện hạch toán thu NSNN theo Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN đã nhận được từ chi nhánh NHTM).

2.2. Cuối ngày, KBNN truyền dữ liệu về số đã thu NSNN vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời, in 02 liên Bảng kê chứng từ nộp NSNN (Mầu 04/BK-CTNNS ban hành kèm theo Thông tư này) và chuyển cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý người nộp NSNN hoặc cơ quan Hải quan nơi phát hành tờ khai hải quan 01 liên bảng kê; 01 liên lưu tại KBNN để làm căn cứ theo dõi, đối chiếu.

Trường hợp giữa KBNN và cơ quan Thuế, Hải quan đã triển khai chương trình xác thực chữ ký điện tử, thì KBNN chỉ in 01 liên Bảng kê chứng từ nộp ngân sách để lưu; cơ quan Thuế, Hải quan tự in Bảng kê chứng từ nộp ngân sách từ cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế do KBNN chuyển đến.

3. Tại cơ quan Thuế, Hải quan:

3.1. Thực hiện kết xuất và truyền thông tin, dữ liệu về người nộp NSNN và số phải thu NSNN về Trung tâm trao đổi dữ liệu trung ương theo quy trình quy định tại Quyết định số 1027/QĐ-BTC; đồng thời, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, dữ liệu về danh mục dùng chung, danh mục người nộp NSNN và số phải thu NSNN qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế/hoặc Tổng cục Hải quan để kết nối với NHTM.

3.2. Khi nhận được thông tin, dữ liệu về sổ đã nộp NSNN do NHTM chuyển đến, Tổng cục Hải quan có trách nhiệm ghi nhận dừ liệu vào cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan để làm cơ sở cho các Cục/Chi cục Hải quan (nơi phát hành tờ khai hải quan) thông quan hàng hoá xuất, nhập khau theo chế độ quy định; căn cứ thông tin, dữ liệu vê sô đã nộp NSNN tại Công thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan, Cục/Chi cục Hải quan kiểm tra, nếu phù họp thì làm thủ tục thông quan hàng hoá xuất, nhập khẩu cho người nộp NSNN theo chế độ quy định cụ thể của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan.

3.3. Căn cứ thông tin, dữ liệu về thu NSNN do KBNN chuyển sang, cơ quan Thuế, Hải quan thực hiện cập nhật và hạch toán vào hệ thống tác nghiệp nội bộ của từng hệ thống. Riêng đối với cơ quan Hải quan phải thực hiện đối chiếu dữ liệu về số đã thu NSNN nhận từ KBNN với dữ liệu nhận từ NHTM, nhằm phát hiện sai lệch (nếu có) và có biện pháp xử lý kịp thời.