vanban.org

Điều 12. Chế độ thông tin, báo cáo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 147/2003/NĐ-CP — Thông tư liên tịch 43/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/02/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 15/2024/TT-BLĐTBXH · 31/12/2024
Bộ Nội vụ Ban hành 31/12/2011 Hiệu lực 01/03/2012 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 14 năm
Thông tư liên tịch số 43/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT Hướng dẫn việc cấp giấy phép và quản lý hoạt động của các cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện · 43/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT
15/02/202515/2024/TT-BLĐTBXHBãi bỏ Đang xem 01/03/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 43/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT › Chương IV › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Chế độ thông tin, báo cáo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 147/2003/NĐ-CP

1. Cơ sở cai nghiện báo cáo tình hình hoạt động và kết quả cai nghiện ma túy cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội) nơi cơ sở cai nghiện đặt trụ sở và cơ quan chủ quản của cơ sở cai nghiện trước ngày 20 hàng tháng.

2. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp kết quả cai nghiện ma túy của cơ sở trên địa bàn quản lý cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội) và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo định kỳ hằng quý và cả năm. Báo cáo quý phải gửi trước ngày 20 của tháng cuối quý; báo cáo năm phải gửi trước ngày 20 tháng 12 hằng năm.

3. Trong thời gian hoạt động cai nghiện ma túy, nếu xảy ra các sự cố như: Mất trật tự an toàn xã hội, tai nạn, chết người, cơ sở cai nghiện có trách nhiệm báo cáo trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm xảy ra sự cố đến các cơ quan chức năng nơi cơ sở cai nghiện đặt trụ sở.