Điều 5. Lập dự toán, quản lý và quyết toán kinh phí Chương trình
Việc lập dự toán, phân bổ và giao dự toán, cấp phát, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí thực hiện Chương trình, thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn hiện hành và quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch này như sau:
1. Lập dự toán kinh phí thực hiện Chương trình hàng năm:
a) Hàng năm các Bộ và địa phương căn cứ vào nhiệm vụ, dự án theo Quyết định số 1206/QĐ-TTg, lập và phê duyệt từng dự án, nhiệm vụ thuộc danh mục dự án thành phần được giao của Chương trình theo quy định hiện hành, gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, tổng hợp vào dự toán năm sau để gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với thời điểm lập dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định hiện hành;
Khi xây dựng nhiệm vụ, dự án phải căn cứ vào định mức chi và mức hỗ trợ; tiêu chí, điều kiện hỗ trợ vốn của Chương trình quy định tại Điều 3 và Điều 4 của Thông tư liên tịch này, xác định nhu cầu kinh phí thực hiện dự án đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ, nhu cầu kinh phí thực hiện dự án do ngân sách địa phương chủ động bố trí và các nguồn vốn huy động, đóng góp hợp pháp khác;
b) Bộ Tài nguyên và Môi trường lập dự toán kinh phí đối với các nhiệm vụ, dự án do Bộ thực hiện; tổng hợp, rà soát kinh phí thực hiện các nhiệm vụ, dự án, của các Bộ, địa phương, gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại thời điểm lập dự toán ngân sách hàng năm;
c) Căn cứ tổng mức kinh phí Chương trình được cấp có thẩm quyền thông báo, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến phân bổ kinh phí của Chương trình, cả về cơ cấu và mức hỗ trợ cho các Bộ; nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, tiêu chí, điều kiện hỗ trợ và mức hỗ trợ; gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình
2. Chấp hành dự toán
a) Căn cứ kế hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, các Bộ, địa phương phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc theo mã số sau:
Mã số 0451 - Dự án 1: Khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng;
Mã số 0452 - Dự án 2: Cải thiện và phục hồi môi trường tại một số khu vực ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu;
Mã số 0453 - Dự án 3: Thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên, thuộc 03 lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu và hệ thống sông Đồng Nai.
Mã số này được sử dụng trong khâu chấp hành dự toán, kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước.
b) Các cơ quan, đơn vị được giao kinh phí thực hiện Chương trình tổ chức thực hiện dự án, quản lý, sử dụng kinh phí, thanh quyết toán và chấp hành chế độ báo cáo theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.
3. Quyết toán kinh phí:
a) Đối với dự án, nhiệm vụ bố trí từ nguồn vốn sự nghiệp:
Định kỳ cuối năm và khi kết thúc dự án, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao chủ trì dự án tổ chức nghiệm thu khối lượng công việc theo giai đoạn (đối với dự án chưa hoàn thành) hoặc nghiệm thu kết thúc dự án (đối với dự án kết thúc) theo quy chế kiểm tra nghiệm thu của cơ quan quản lý Chương trình ban hành để làm cơ sở thanh toán, quyết toán kinh phí của dự án;
Trình tự lập, xét duyệt, thẩm định báo cáo quyết toán năm của dự án thực hiện theo quy định hiện hành.
b) Đối với dự án bố trí từ nguồn vốn đầu tư phát triển:
Thủ tục lập, thẩm định phê duyệt dự án; giao và thực hiện kế hoạch vốn đầu tư thực hiện theo quy định hiện hành. Việc quản lý, cấp phát thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư.