vanban.org

Điều 4. Lập dự toán, cấp phát, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí hỗ trợ — Thông tư liên tịch 28/2012/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/10/2012 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 28/2012/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Lập dự toán, cấp phát, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí hỗ trợ

1. Lập dự toán

 Hàng năm, vào thời điểm xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện căn cứ danh sách người được hưởng hỗ trợ kinh phí đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (Phụ lục II) đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt để lập dự toán kinh phí hỗ trợ cho người được hưởng hỗ trợ (Phụ lục III) gửi cơ quan tài chính cấp huyện tổng hợp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định về phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.

2. Cấp phát, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí hỗ trợ

a) Cấp phát kinh phí hỗ trợ

Căn cứ dự toán kinh phí hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội cho người được hưởng hỗ trợ của cơ quan bảo hiểm xã hội (Phụ lục III) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, định kỳ 6 tháng một lần, cơ quan tài chính của cấp ngân sách được giao nhiệm vụ chi giáo dục mầm non chuyển kinh phí hỗ trợ cho cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện theo quy định. Thời hạn chuyển kinh phí hỗ trợ như sau:

 Chậm nhất đến tháng 3 hàng năm, chuyển kinh phí hỗ trợ 6 tháng đầu năm (đợt 1); chậm nhất tháng 11 hàng năm chuyển kinh phí 6 tháng cuối năm (đợt 2). Căn cứ báo cáo tình hình nhận và sử dụng kinh phí hỗ trợ đợt 1, nhu cầu hỗ trợ đợt 2 của cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan tài chính cấp kinh phí đợt 2 nhưng không vượt quá dự toán được giao trong năm; số kinh phí còn thiếu được xử lý trong dự toán ngân sách năm sau.

b) Quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hỗ trợ

 Sau khi nhận được kinh phí hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm liên hệ với người được hưởng hỗ trợ để xác nhận việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, xác định phần kinh phí tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn lại mà người được hưởng hỗ trợ phải tự đóng thêm, hoàn thiện các hồ sơ liên quan và thực hiện chế độ chính sách đối với người được hưởng hỗ trợ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn luật Bảo hiểm xã hội.

Người được hưởng hỗ trợ có trách nhiệm đóng phần kinh phí tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn lại sau khi đã được Nhà nước hỗ trợ theo quy định của Thông tư liên lịch này và thực hiện đầy đủ các hướng dẫn của cơ quan bảo hiểm xã hội. Người được hưởng hỗ trợ không thực hiện đúng cam kết quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (trừ trường hợp bị chết trong thời gian đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện) thì cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm trích lại từ khoản bảo hiểm xã hội một lần của người được hưởng hỗ trợ khoản kinh phí đã được Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện để nộp lại Ngân sách nhà nước.

Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Số kinh phí hỗ trợ cấp thừa, được trừ vào số cấp của năm sau; số kinh phí cấp thiếu được xử lý vào dự toán năm sau.

3. Quy định đối với một số trường hợp riêng

Người được hưởng hỗ trợ nghỉ việc trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành thì cá nhân có trách nhiệm liên hệ với cơ sở giáo dục mầm non nơi công tác trước khi nghỉ việc để làm thủ tục xét duyệt đối tượng hưởng hỗ trợ. Kinh phí hỗ trợ được thực hiện như sau:

a) Đối với người được hưởng hỗ trợ nghỉ việc trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành mà chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì kinh phí hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

b) Đối với người được hưởng hỗ trợ nghỉ việc, đã tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành thi thời điểm áp dụng chính sách hỗ trợ một phần kinh phí đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện kể từ ngày 05 tháng 10 năm 2011 là ngày Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành. Kinh phí hỗ trợ tương ứng với số tháng được hưởng hỗ trợ mà người được hưởng hỗ trợ đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (trong khoảng thời gian từ ngày 05 tháng 10 năm 2011 đến trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành) được cấp 1 lần vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội để chuyển trả cho người được hưởng hỗ trợ hoặc chuyển vào phần tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện của những tháng tiếp theo (nếu người được hưởng hỗ trợ còn đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và có yêu cầu).

Ví dụ 3: Bà Nguyễn Thị Đ có Quyết định nghỉ việc (đủ 55 tuổi) từ ngày 01 tháng 8 năm 2011. Tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2011, bà Đ đã có 16 năm 7 tháng tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Bà Đ còn thiếu 03 năm 05 tháng thì đủ 20 năm để được hưởng chế độ hưu trí. Bà Đ đã tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 và hiện vẫn đang tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Bà Đ đã có thời gian công tác làm giáo viên mầm non trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 là 05 năm 01 tháng. Bà Đ thuộc đối tượng được hưởng hỗ trợ. Thời điểm áp dụng hỗ trợ một phần kinh phí đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với bà Đ được tính từ ngày 05 tháng 10 năm 2011 là ngày Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành. Bà Đ được cơ quan bảo hiểm xã hội chuyển trả 1 lần khoản kinh phí nhà nước hỗ trợ đối với các tháng Bà đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội (thời điểm từ ngày 05 tháng 10 năm 2011 đến ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành) hoặc bà Đ có thể đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội chuyển số kinh phí trên vào phần tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện của Bà ở những tháng tiếp theo.