Điều 7. Lập dự toán, thanh toán, quyết toán, thanh tra, kiểm tra Quỹ phòng, chống ma tuý
1. Lập dự toán Quỹ phòng, chống ma tuý:
a) Đối với các địa phương được Ngân sách Trung ương hỗ trợ ban đầu trên cơ sở đề án thành lập Quỹ phòng, chống ma tuý của địa phương (do khó khăn, không đủ điều kiện để thành lập Quỹ phòng, chống ma tuý theo quy định hiện hành); hoặc trong những trường hợp đặc biệt, Ngân sách Trung ương hỗ trợ cho Quỹ phòng, chống ma tuý Trung ương theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Cơ quan quản lý Quỹ phòng, chống ma tuý lập kế hoạch thu, chi Quỹ, trong đó thể hiện rõ nhu cầu cần hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước, gửi cơ quan Tài chính cùng cấp để tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền bổ sung cho Quỹ theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách nhà nước.
b) Hàng năm (hoặc đột xuất), khi có nhu cầu sử dụng Quỹ phòng, chống ma tuý. Các Bộ, cơ quan trung ương, các đơn vị, cơ quan trực thuộc cấp tỉnh căn cứ nội dung chi, mức chi quy định tại Điều 5, Thông tư này, lập dự toán chi Quỹ gửi Bộ Công an (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý Trung ương); Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý của địa phương).
Trong phạm vi, khả năng của Quỹ phòng, chống ma tuý, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt và quyết định cụ thể từng nội dung chi, tổng mức dự toán chi, thông báo để Văn phòng Thường trực phòng, chống ma tuý Bộ Công an (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý Trung ương), Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý của địa phương) xuất Quỹ phòng, chống ma tuý để các Bộ, cơ quan Trung ương, các đơn vị, cơ quan trực thuộc cấp tỉnh triển khai thực hiện; đồng gửi Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước nơi Quỹ phòng, chống ma tuý mở tài khoản để theo dõi và quản lý chung theo quy định hiện hành về quản lý Quỹ ngoài Ngân sách nhà nước.
2. Thanh, quyết toán Quỹ phòng, chống ma tuý.
a) Các Bộ, cơ quan trung ương và các cơ quan, đơn vị thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi tiếp nhận, sử dụng Quỹ phòng, chống ma tuý phải mở sổ kế toán để hạch toán kế toán các khoản thu, chi Quỹ và lập báo cáo quyết toán Quỹ theo đúng quy định tài chính hiện hành đối với Quỹ ngoài Ngân sách nhà nước; Chịu trách nhiệm lập và gửi đầy đủ, đúng thời hạn các báo cáo tài chính về sử dụng Quỹ theo định kỳ và báo cáo quyết toán 6 tháng, hàng năm về cơ quan quản lý Quỹ phòng, chống ma túy của Trung ương hoặc của địa phương. Nghiêm cấm việc để ngoài sổ kế toán bất kỳ khoản thu, chi, tài sản, quỹ, công nợ hay bất kỳ khoản đóng góp, tài trợ nào của các cơ quan, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước cho Quỹ phòng, chống ma tuý;
b) Cơ quan quản lý Quỹ phòng, chống ma túy của Trung ương (Văn phòng Thường trực phòng, chống ma tuý Bộ Công an) và Quỹ phòng, chống ma túy của địa phương (Sở Tài chính) có trách nhiệm xem xét, tổng hợp quyết toán thu, chi Quỹ phòng, chống ma túy, trình Bộ trưởng Bộ Công an (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý Trung ương), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với Quỹ phòng, chống ma tuý của địa phương) phê duyệt, tổng hợp báo cáo quyết toán Quỹ hàng năm.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chức năng tổng hợp số liệu, tình hình quản lý, sử dụng Quỹ phòng, chống ma tuý của địa phương, gửi Bộ trưởng Bộ Công an theo định kỳ 6 tháng, hàng năm, hoặc theo yêu cầu đột xuất của Bộ trưởng Bộ Công an, để Bộ trưởng Bộ Công an tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ và gửi báo cáo nhanh hàng tháng về Chủ tịch Ủy ban quốc gia phòng, chống HIV/AID và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm; đồng gửi Bộ Tài chính để theo dõi, quản lý chung.
c) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị sử dụng và quản lý Quỹ phòng, chống ma tuý các cấp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính pháp lý và sự chính xác của các số liệu trong báo cáo quyết toán, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống ma túy.
3. Số dư Quỹ phòng, chống ma túy, kinh phí hỗ trợ các cơ quan, đơn vị từ Quỹ phòng, chống ma tuý (kể cả ở Trung ương và địa phương), cuối năm không sử dụng hết được chuyển sang năm sau để sử dụng tiếp theo các nội dung quy định tại Thông tư này.
4. Quỹ phòng, chống ma tuý (Trung ương và địa phương) chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm toán của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý Ngân sách nhà nước.