Điều 3. Giá trị doanh nghiệp để chuyển đổi
1. Giá trị doanh nghiệp để chuyển đổi là toàn bộ giá trị tài sản hiện có ghi trên sổ sách của doanh nghiệp đã được kiểm toán độc lập trong vòng 6 tháng trước thời điểm nộp hồ sơ chuyển đổi.
2. Giá trị phần vốn của chủ đầu tư trước khi chuyển đổi là toàn bộ giá trị tài sản hiện có ghi trên sổ sách của doanh nghiệp đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập trong vòng 6 tháng trước thời điểm nộp hồ sơ chuyển đổi sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả.
3. Thời điểm định giá doanh nghiệp là thời điểm báo cáo tài chính đã được kiểm toán .
4. Trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, việc kiểm kê, phân loại các loại tài sản, các khoản nợ phải thu, phải trả cần tuân thủ theo các quy định hiện hành về quản lý tài chính - kế toán, thuế.
Phần giá trị các tài sản thiếu, mất mát, hư hỏng không thể sử dụng được (nếu có) sẽ được khấu trừ vào giá trị doanh nghiệp để chuyển đổi sau khi trừ đi khoản đền bù trách nhiệm cá nhân.
Phần giá trị tài sản thừa (nếu có) sẽ được tính vào giá trị doanh nghiệp để chuyển đổi.
Các khoản nợ phải thu có đủ căn cứ xác định không có khả năng thu hồi tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải trả có đủ căn cứ là chủ nợ đã từ bỏ các quyền của mình đối với khoản nợ đó tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được hạch toán vào thu nhập của doanh nghiệp.
5. Trường hợp doanh nghiệp liên doanh có Bên Việt Nam được phép dùng giá trị quyền sử dụng đất đẻ góp vốn vào liên doanh, nếu Bên Việt Nam là Doanh nghiệp Nhà nước thì phải hoàn thành thủ tục ghi vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất góp vốn vào liên doanh theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
6. Trong khoảng thời gian tính từ ngày báo cáo tài chính được kiểm toán đến ngày Giấy phép đầu tư điều chỉnh có hiệu lực, có phát sinh các khoản lãi hoặc lỗ làm ảnh hưởng đến giá trị Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp được điều chỉnh giá trị Doanh nghiệp để chuyển đổi tương ứng với phần lãi hoặc lỗ phát sinh đã được kiểm toán.