vanban.org

Điều 15. Cách tính thời hạn 30 ngày và lý do bất khả kháng — Thông tư liên tịch 06/2026/TTLT-BCA-BQP-BNG-BTP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ban hành 22/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 06/2026/TTLT-BCA-BQP-BNG-BTP-TANDTC-VKSNDTC › Chương III › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Cách tính thời hạn 30 ngày và lý do bất khả kháng

1. Thời hạn 30 ngày theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 15 của Luật Dẫn độ bắt đầu tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày người bị dẫn độ được cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù hoặc được trả tự do và không bị áp dụng bất kỳ biện pháp ngăn chặn nào theo quy định pháp luật.

2. Lý do bất khả kháng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 15 của Luật Dẫn độ bao gồm:

a) Thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh làm đình trệ giao thông quốc tế;

b) Tình trạng sức khỏe nguy kịch của người bị dẫn độ có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền của nước yêu cầu;

c) Không có phương tiện vận chuyển hoặc không có phương tiện vận chuyển thay thế vì vấn đề kỹ thuật;

d) Các lý do khách quan khác mà người đó không thể tự chủ để rời khỏi lãnh thổ.

3. Sau khi hết thời hạn 30 ngày tính từ ngày được quy định tại khoản 1 Điều này cộng thêm thời gian bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều này mà người đó vẫn cư trú tự nguyện trên lãnh thổ của nước yêu cầu dẫn độ thì nước yêu cầu dẫn độ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó về tội khác với tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ được thực hiện trước khi bị dẫn độ hoặc có thể dẫn độ người đó cho bên thứ ba mà không cần phải xin phép nước được yêu cầu dẫn độ.