Điều 3. Chế độ trợ cấp một lần đối với sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất
1. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu (đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng) trước hạn tuổi phục vụ cao nhất do thay đổi tổ chức, biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền được thực hiện chế độ trợ cấp một lần quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 59/2010/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
2. Hạn tuổi để tính hưởng chế độ trợ cấp khi sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất được xác định theo cấp bậc hàm của sĩ quan tại Quyết định về việc nghỉ công tác hưởng chế độ hưu trí của cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 43/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công an nhân dân, cụ thể như sau:
Cấp úy: nam 50, nữ 50;
Thiếu tá, Trung tá: nam 55, nữ 53;
Thượng tá: nam 58, nữ 55;
Đại tá, cấp tướng: nam 60, nữ 55.
Khi Nhà nước có quy định mới về hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan Công an nhân dân thì thực hiện theo quy định mới.
Tuổi để xác định sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi so với hạn tuổi phục vụ cao nhất theo quy định ít nhất phải đủ một năm (12 tháng) và được tính từ tháng sinh đến tháng liền kề trước khi sĩ quan hưởng lương hưu hàng tháng. Đối với trường hợp trong các loại hồ sơ không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ xác định được năm sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm sinh của sĩ quan để làm căn cứ tính tuổi nghỉ hưu.
Ví dụ 1: Đồng chí Nguyễn Văn T, Thiếu tá, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1959, vào Công an nhân dân ngày 01 tháng 9 năm 1977, được cấp có thẩm quyền quyết định nghỉ công tác hưởng lương hưu hàng tháng từ ngày 01 tháng 8 năm 2010. Đồng chí T hưởng lương hưu hàng tháng khi 51 tuổi 3 tháng. Theo quy định, đồng chí T được trợ cấp một lần do nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất là 55 tuổi - 51 tuổi 3 tháng = 3 năm 9 tháng.
Ví dụ 2: Đồng chí Trần Văn A, Trung tá, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1956, vào Công an nhân dân ngày 01 tháng 9 năm 1975, được cấp có thẩm quyền quyết định nghỉ công tác hưởng lương hưu hàng tháng từ ngày 01 tháng 12 năm 2010. Đồng chí A hưởng lương hưu hàng tháng khi 54 tuổi 4 tháng. Đồng chí A không được hưởng trợ cấp một lần do nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất vì đồng chí A hưởng lương hưu trước 55 tuổi có 08 tháng (chưa đủ 01 năm).
3. Ngoài chế độ bảo hiểm xã hội và chế độ ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có) được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành, sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất còn được hưởng các khoản trợ cấp một lần như sau:
a) Bằng 03 (ba) tháng mức bình quân tiền lương tháng cho mỗi năm (đủ 12 tháng) nghỉ hưu trước hạn tuổi, theo công thức sau:
| Mức trợ cấp theo số năm trước hạn tuổi | = | Số năm nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất | x 03 tháng x | Mức bình quân tiền lương tháng của 60 tháng trước khi nghỉ hưu |
b) Bằng 05 (năm) tháng mức bình quân tiền lương tháng cho 20 năm đầu công tác. Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm được trợ cấp 1/2 tháng. Theo công thức sau:
| Mức trợ cấp theo số năm công tác | = | 05 tháng +[(tổng số năm công tác - 20 năm) x 1/2 tháng] | x | Mức bình quân tiền lương tháng của 60 tháng trước khi nghỉ hưu |
Ví dụ 3 : Trường hợp đồng chí Thiếu tá Nguyễn Văn T nêu tại ví dụ 1, có 32 năm 11 tháng công tác trong Công an nhân dân được làm tròn để tính hưởng trợ cấp là 33 năm, số năm nghỉ hưu trước hạn tuổi là 3 năm 9 tháng được làm tròn để tính hưởng trợ cấp là 4 năm, mức bình quân tiền lương tháng của 5 năm cuối trước khi nghỉ là 5.081.600 đồng. Ngoài chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành, đồng chí T còn được hưởng:
- Trợ cấp theo số năm nghỉ trước hạn tuổi phục vụ cao nhất
4 năm x 3 tháng x 5.081.600 đồng = 60.979.200 đồng
- Trợ cấp theo số năm công tác:
[5 tháng + (33-20) x 1/2] x 5.081.600 đồng = 58.438.400 đồng
Tổng số tiền trợ cấp đồng chí T được hưởng là:
60.979.200 đồng + 58.438.400 đồng = 119.417.600 đồng.
4. Sĩ quan Công an nhân dân xin nghỉ hưu trước hạn tuổi phục vụ cao nhất do nhu cầu cá nhân trong khi đơn vị vẫn có nhu cầu bố trí, sử dụng; sĩ quan Công an nhân dân do vi phạm kỷ luật phải nghỉ việc trước hạn tuổi phục vụ cao nhất không được hưởng chế độ trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 59/2010/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.