vanban.org

Điều 33. Đình chỉ điều tra — Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/03/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng Ban hành 28/01/2026 Hiệu lực 15/03/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư liên tịch · 4 phiên bản · 21 năm
Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP QUY ĐỊNH VỀ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ · 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP
15/03/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP Quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự · 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP
Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng cùng ban hành · 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP › Điều 33
Đọc toàn văn

Điều 33. Đình chỉ điều tra

1. Khi có căn cứ đình chỉ điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc đình chỉ điều tra theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu thấy đủ căn cứ thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can; nếu thấy không đủ căn cứ thì Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra.

2. Khi ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can, Cơ quan điều tra phải hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), xử lý vật chứng, những vấn đề khác có liên quan và thực hiện việc thông báo, gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát có thẩm quyền đã phê chuẩn, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc hủy bỏ.