Điều 6. Chế độ báo cáo, quyết toán, kiểm tra
1. Báo cáo.
a) Đối với các chủ đầu tư, các Bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại Quyết định số 52/2007/QĐ-TTg ngày 16/4/2007 của
b) Đối với Kho bạc Nhà nước:
-Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của Bộ Tài chính;
- Kết thúc năm kế hoạch, Kho bạc Nhà nước tổng hợp số liệu thanh toán vốn đầu tư báo cáo cơ quan tài chính đồng cấp theo quy định về quyết toán ngân sách nhà nước;
- Hết năm kế hoạch, Kho bạc Nhà nước xác nhận số thanh toán trong năm, luỹ kế số thanh toán từ khởi công đến hết niên độ ngân sách nhà nước cho từng dự án do chủ đầu tư lập theo 2 thời điểm: đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau và đến hết ngày 30 tháng 6 năm sau.
2. Quyết toán vốn đầu tư.
a) Quyết toán vốn đầu tư hàng năm:
Việc quyết toán vốn đầu tư hàng năm thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính (hiện nay quy định tại Thông tư 210/2010/TT-BTC ngày 20/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước theo niên độ ngân sách hàng năm) và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có);
b) Quyết toán các dự án hoàn thành:
Việc quyết toán dự án hoàn thành thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước (hiện nay quy định tại Thông tư số 19/2011/TT-BTC ngày 14/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước) và các văn bản bổ sung hoặc thay thế (nếu có);
Riêng dự án đầu tư phát triển rừng về hoạt động lâm sinh do các cá nhân, hộ gia đình, tổ, đội, cộng đồng dân cư thực hiện, chủ đầu tư (hoặc Ban quản lý) lập báo cáo quyết toán chi tiết (bản quyết toán khối lượng) kết quả thực hiện dự án hay hạng mục dự án theo Mẫu số 07/BQTCT ban hành kèm theo Thông tư này. Đối với các dự án có nhiều hoạt động lâm sinh hay hạng mục công trình lâm sinh, tùy theo quy mô, tính chất và thời hạn thực hiện hoạt động, chủ đầu tư có thể thực hiện quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư cho từng hoạt động, từng công trình độc lập hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư. Giá trị đề nghị quyết toán của hoạt động, công trình lâm sinh là khối lượng thực hiện theo dự toán và được nghiệm thu (bao gồm phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, phần đầu tư của các tổ chức thực hiện hoạt động lâm sinh);
Đối với các dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tổng hợp (gọi tắt là dự án đầu tư lâm nghiệp) có tính chất như một loại dự án gồm nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập (có quyết định phê duyệt dự án hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình riêng biệt) thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập được thực hiện quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán như một dự án đầu tư độc lập theo quy định tại Thông tư này. Sau khi toàn bộ dự án hoàn thành, chủ đầu tư (hoặc chủ quản đầu tư trong trường hợp có nhiều chủ đầu tư các dự án thành phần) tổng hợp kết quả quyết toán toàn bộ dự án báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt; không phải thẩm tra và phê duyệt quyết toán lại các dự án thành phần hoặc tiểu dự án đã được thẩm tra và phê duyệt theo quy định;
Đối với phần hoạt động lâm sinh bị rủi ro do các yếu tố bất khả kháng thực hiện theo quy định tại Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ, xác định phần vốn ngân sách nhà nước bị thiệt hại để tổng hợp báo cáo cấp quyết định đầu tư xem xét quyết định xử lý.
c) Kiểm tra:
Các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương, cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra các chủ đầu tư, nhà thầu tham gia dự án về tình hình sử dụng vốn tạm ứng, vốn thanh toán khối lượng hoàn thành, quyết toán và việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính đầu tư phát triển của Nhà nước;
Cơ quan Tài chính các cấp định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra Kho bạc Nhà nước về việc thực hiện chế độ thanh toán vốn đầu tư.