vanban.org

Điều 7. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 11 — Thông tư 77/2025/TT-NHNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/03/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 31/12/2025 Hiệu lực 01/03/2025 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 77/2025/TT-NHNN › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 11

1. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 5 Điều 11 như sau:

“c) Giải pháp phát hiện tấn công giả mạo thông tin sinh trắc học của vật thể sống (Presentation Attack Detection - PAD) theo quy định tại điểm a khoản này do đơn vị tự triển khai hoặc sử dụng của bên thứ ba cung cấp phải được cấp chứng nhận của tổ chức/phòng thí nghiệm sinh trắc học được Liên minh FIDO (FIDO Alliance) công nhận hoặc của Tổ chức chứng nhận (Certification Body) cấp phép xác nhận tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế (ISO), đáp ứng tiêu chuẩn ISO 30107 cấp độ 2 (Level 2) hoặc tương đương. Tổ chức chứng nhận (Certification Body) phải được cấp phép bởi Cơ quan công nhận (Accreditation Body) đã tham gia Thỏa thuận công nhận lẫn nhau đa phương của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (International Accreditation Forum – IAF Multilateral Recognition Arrangement, IAF MLA).”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 11 như sau:

“8. Hình thức xác nhận PGP (Pretty Good Privacy) là hình thức xác nhận theo tiêu chuẩn về bảo mật và xác thực sử dụng thuật toán mã hóa dùng cặp khóa không đối xứng (gồm khóa bí mật và khóa công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng để kiểm tra chữ ký số) do tổ chức tiêu chuẩn quốc tế IETF (Internet Engineering Task Force) ban hành. Hình thức xác nhận PGP phải đáp ứng các yêu cầu:

a) Khóa công khai của khách hàng được đăng ký với đơn vị, được lưu trữ an toàn tại đơn vị và được liên kết với tài khoản giao dịch điện tử của khách hàng;

b) Có phương thức bảo đảm xác minh danh tính chủ thể gắn với khóa, cơ chế bảo mật và thu hồi khóa;

c) Có thỏa thuận về trách nhiệm pháp lý của đơn vị và khách hàng liên quan đến tính xác thực, tính toàn vẹn và không chối bỏ của các tệp tin giao dịch được ký theo phương thức này.”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 11 như sau:

“9. Hình thức xác nhận bằng chữ ký điện tử an toàn là hình thức xác nhận bằng chữ ký điện tử, trong đó chữ ký điện tử là chữ ký số hoặc chữ ký điện tử nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về chữ ký điện tử.”.