Điều 3. Sửa đổi mục 4 như sau:
“4. Thẩm quyền và thời gian phong, thăng cấp bậc hàm đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân (điểm a Khoản 1 Điều 8)
4.1. Tư lệnh, Cục trưởng và tương đương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định phong cấp bậc hàm Binh nhì đối với chiến sĩ phục vụ có thời hạn kể từ ngày khai mạc khóa huấn luyện chiến sĩ mới; riêng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp do Tổng cục trưởng quyết định.
Hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Cục An ninh điều tra phong, thăng cấp bậc hàm An ninh nhân dân.
Hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị: Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Cục Cảnh sát bảo vệ và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an phong, thăng cấp bậc hàm Cảnh sát nhân dân.
Khi đủ 06 tháng kể từ ngày được phong cấp bậc hàm Binh nhì thì được xét thăng cấp bậc hàm Binh nhất; 06 tháng kể từ ngày được thăng cấp bậc hàm Binh nhất thì được xét thăng cấp bậc hàm Hạ sĩ. Thời hạn để xét thăng cấp bậc hàm tiếp theo đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn được tính tròn năm (đủ 12 tháng).
4.2. Chương trình huấn luyện chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân thực hiện theo quy định của Bộ. Thủ trưởng các đơn vị: Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Cục An ninh điều tra, Cục Cảnh sát bảo vệ, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện toàn bộ chương trình huấn luyện chiến sĩ mới tại cơ sở huấn luyện của đơn vị, địa phương mình.”