Điều 4. Yêu cầu về trữ lượng cấp 121
1. Mức độ đánh giá địa chất
a) Xác định được cấu tạo địa chất mỏ; đặc điểm hình dạng, kích thước, thế nằm, quy luật biến đổi hình dạng và cấu tạo bên trong thân quặng; khoanh nối chi tiết ranh giới các lớp đá kẹp, thấu kính không quặng theo chỉ tiêu tính trữ lượng, sự có mặt của các đứt gãy làm dịch chuyển quặng;
b) Phân chia chính xác các loại quặng tự nhiên, công nghiệp với những đặc điểm riêng biệt về thành phần khoáng vật, cấu tạo, kiến trúc, thành phần hóa học, tính chất cơ lý và tính chất công nghệ quặng; ranh giới các loại quặng được xác định một cách chính xác;
c) Chất lượng quặng được xác định một cách chắc chắn, đã xác định rõ thành phần vật chất, tính chất cơ lý và tính chất công nghệ của khoáng sản chính là đồng; nghiên cứu rõ đặc điểm hàm lượng, dạng tồn tại của thành phần có ích đi kèm; tính chất công nghệ của quặng được đánh giá tới mức xác định được sơ đồ tuyển thu hồi tinh quặng đồng hợp lý và đánh giá được khả năng thu hồi các khoáng sản và thành phần có ích đi kèm như vàng, bạc, sắt,... (nếu có), đảm bảo đủ số liệu để xác định sơ đồ công nghệ chế biến quặng;
d) Điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình, điều kiện khai thác mỏ và các yếu tố tự nhiên khác có liên quan được đánh giá chi tiết đảm bảo cung cấp đủ số liệu tin cậy để lập dự án đầu tư khai thác mỏ;
đ) Độ tin cậy của trữ lượng bảo đảm tối thiểu 80%.
2. Khoanh nối ranh giới tính trữ lượng
Ranh giới trữ lượng cấp 121 được khoanh định trong phạm vi khống chế bởi các công trình thăm dò và công trình khai thác (nếu có). Tùy thuộc vào mức độ phức tạp về cấu trúc địa chất, tính ổn định chiều dày, hàm lượng thân quặng, khoảng cách giữa các công trình thăm dò có thể dao động nhưng không được vượt quá trị lớn nhất của mạng lưới định hướng đối với trữ lượng cấp 121 tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này.
3. Mức độ đánh giá tính khả thi về kỹ thuật công nghệ và hiệu quả kinh tế
a) Đã lựa chọn được các giải pháp kỹ thuật, công nghệ chế biến quặng hợp lý trên cơ sở kết quả nghiên cứu mẫu công nghệ hoặc báo cáo đầu tư xây dựng công trình mỏ;
b) Cấp trữ lượng xác định có hiệu quả kinh tế trên cơ sở nghiên cứu báo cáo đầu tư xây dựng công trình mỏ, hoặc đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo phụ lục luận giải chỉ tiêu tính trữ lượng trong báo cáo kết quả thăm dò.
Điều 15. Yêu cầu về trữ lượng cấp 122
1. Mức độ đánh giá địa chất
a) Xác định được đặc điểm cấu tạo địa chất mỏ, đặc điểm hình dạng, kích thước, thế nằm của thân quặng; đặc điểm biến đổi chiều dày, hàm lượng của các thân quặng, sự có mặt của đá kẹp không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng và đứt gãy phá hủy quặng;
b) Xác định mức độ tin cậy các loại quặng tự nhiên, công nghiệp trên cơ sở đặc điểm về thành phần khoáng vật, cấu tạo, kiến trúc, thành phần hóa học, tính chất cơ lý và tính chất công nghệ của quặng;
c) Chất lượng quặng được đánh giá chi tiết, đã xác định được thành phần vật chất, tính chất cơ lý và tính chất công nghệ của khoáng sản chính là đồng; nghiên cứu đánh giá đặc điểm hàm lượng, dạng tồn tại của thành phần có ích đi kèm; tính chất công nghệ của quặng được đánh giá tới mức xác định được sơ đồ tuyển thu hồi tinh quặng đồng hợp lý và đánh giá được khả năng thu hồi các khoáng sản và thành phần có ích đi kèm như vàng, bạc, sắt,... (nếu có), đảm bảo đủ số liệu để xác định sơ đồ công nghệ chế biến quặng;
d) Xác định được đặc điểm cơ bản điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình và điều kiện kỹ thuật khai thác, làm cơ sở cho lập dự án đầu tư khai thác mỏ;
đ) Độ tin cậy của trữ lượng bảo đảm tối thiểu 50%.
2. Ranh giới khoanh nối tính trữ lượng
a) Ranh giới trữ lượng cấp 122 được khoanh định trong phạm vi khống chế bởi các công trình thăm dò và công trình khai thác (nếu có). Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của cấu trúc địa chất thân quặng, sự ổn định về chiều dày, hàm lượng quặng, khoảng cách giữa các công trình thăm dò có thể dao động nhưng không được vượt quá giá trị lớn nhất của mạng lưới định hướng cho trữ lượng cấp 122 tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này;
b) Đối với thân quặng có cấu trúc không quá phức tạp, chiều dày và chất lượng quặng tương đối ổn định, ranh giới trữ lượng cấp 122 được phép ngoại suy có giới hạn theo tài liệu địa chất, địa vật lý, nhưng không vượt quá một phần hai mạng lưới quy định cho cấp trữ lượng này.
3. Mức độ đánh giá tính khả thi về kỹ thuật, công nghệ và hiệu quả kinh tế thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Thông tư này.