vanban.org

Điều 3. Một số quy định đặc thù — Thông tư 70/2009/TT-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/12/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/12/2010 Thay thế: 682/QĐ-BTC · 24/03/2011 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 165/2010/TT-BTC · 26/10/2010
Bộ Tài chính Ban hành 07/04/2009 Hiệu lực 22/05/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 17 năm
Thông tư số 70/2009/TT-BTC Hướng dẫn về thủ tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất xăng, dầu và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất, chế biến xăng, dầu · 70/2009/TT-BTC
10/12/2010165/2010/TT-BTCBãi bỏ Đang xem 22/05/2009Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 70/2009/TT-BTC › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Một số quy định đặc thù

1. Trường hợp phải kiểm tra thực tế xăng, dầu, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, chế biến xăng, dầu thì công chức hải quan căn cứ vào kết quả giám định của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định (dưới đây gọi tắt là thương nhân giám định) về chủng loại mặt hàng, khối lượng (nếu là m3, thùng thì khi khai báo hải quan phải quy đổi đơn vị tính là tấn), trọng lượng, chất lượng để xác nhận kết quả kiểm tra thực tế xăng, dầu, nguyên liệu nhập khẩu vào tờ khai hải quan.

2. Xăng, dầu chỉ được phép bơm lên kho hoặc sang phương tiện khác sau khi tờ khai hải quan đã được Chi cục Hải quan (nơi thương nhân làm thủ tục) hoàn thành thủ tục đăng ký tờ khai theo quy định của Luật Hải quan.

3. Xăng, dầu tạm nhập tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá 120 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản gửi Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục tạm nhập đề nghị gia hạn, việc gia hạn không quá 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày đối với mỗi lô hàng tạm nhập tái xuất.

4. Trường hợp xăng, dầu nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, chế biến xăng dầu thuộc danh mục phải kiểm tra về chất lượng nhưng chưa có Giấy xác nhận đạt yêu cầu chất lượng:

4.1. Đối với xăng, dầu nhập khẩu:

a) Nếu kho của thương nhân có bồn, bể rỗng thì bơm vào bồn, bể rỗng đó. Sau khi bơm xong, Hải quan niêm phong bồn, bể. Khi có Giấy xác nhận đạt yêu cầu chất lượng thì cơ quan Hải quan mới quyết định thông quan và thương nhân mới được phép mở niêm phong hải quan, đưa xăng, dầu vào sử dụng.

b) Nếu kho của thương nhân không có bồn, bể rỗng thì bơm vào bồn, bể đang chứa xăng, dầu cùng loại. Sau khi bơm xong, Hải quan niêm phong bồn, bể và chờ kết quả kiểm tra chất lượng. Nếu cơ quan kiểm tra về chất lượng xác nhận xăng, dầu nhập khẩu không đạt yêu cầu về chất lượng nhập khẩu thì toàn bộ xăng, dầu (cả cũ và mới) bị xử lý theo quy định của pháp luật. Thương nhân hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc này.

4.2. Đối với xăng, dầu tạm nhập tái xuất:

a) Nếu xăng, dầu được bơm vào bồn, bể rỗng, giữ nguyên trạng và niêm phong hải quan cho đến khi tái xuất thì không phải kiểm tra về chất lượng.

b) Nếu xăng, dầu được bơm vào bồn, bể đang chứa xăng, dầu kinh doanh thì phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Xăng, dầu tạm nhập phải cùng chủng loại với xăng, dầu đã có sẵn trong bồn, bể chứa.

- Phải kiểm tra nhà nước về chất lượng như đối với xăng, dầu nhập khẩu.

Trường hợp sau khi kiểm tra, thương nhân giám định xác định xăng, dầu không đạt chất lượng nhập khẩu thì xử lý như điểm 4.1.b nêu trên.

4.3. Đối với xăng, dầu chuyển tải, sang mạn:

Thực hiện khai báo hải quan với cơ quan Hải quan trước khi thực hiện việc chuyển tải, sang mạn. Xăng, dầu được hoàn thành thủ tục hải quan và thông quan sau khi thương nhân đã nộp Giấy chứng nhận đạt chất lượng nhập khẩu của thương nhân giám định có thẩm quyền được chỉ định kiểm tra. Xăng, dầu chuyển tải, sang mạn phải được lưu trữ riêng tại các kho, bồn chứa riêng.

4.4. Đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, chế biến xăng, dầu :

Hải quan chỉ làm thủ tục nhập khẩu nguyên liệu khi thương nhân nộp Giấy chứng nhận đạt chất lượng nhập khẩu.

5. Xác định khối lượng:

5.1. Xăng, dầu xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất bằng tàu biển, tàu sông (đường sông sang Campuchia): căn cứ vào Chứng thư giám định của thương nhân giám định có chức năng giám định về khối lượng xăng, dầu.

5.2. Xăng, dầu xuất khẩu, tái xuất bằng xe téc, xe bồn qua cửa khẩu đường bộ: lượng xăng, dầu được xác định căn cứ vào đồng hồ đo tại kho khi bơm xăng, dầu vào téc, bồn xe vận chuyển hoặc Chứng thư giám định của thương nhân giám định có chức năng giám định về khối lượng hoặc Phiếu hóa nghiệm của doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu.

Những nơi không có thương nhân giám định thì khối lượng xăng, dầu được xác định bằng Barem phương tiện vận chuyển đã được cơ quan kiểm định cấp giấy chứng nhận.

5.3. Lượng xăng, dầu bán cho thương nhân thuộc quy định tại Điều 2, chương I Quy chế kinh doanh tạm nhập tái xuất xăng, dầu ban hành kèm theo Quyết định số 01/2008/QĐ-BCT ngày 03/01/2008 của Bộ Công thương được xác định bằng đồng hồ đo khi bơm từ kho lên phương tiện vận chuyển và khi bơm từ phương tiện vận chuyển vào bồn, bể của thương nhân mua. Nếu bồn, bể của thương nhân mua không có đồng hồ đo thì lượng xăng dầu được xác định bằng cân, Barem hoặc thiết bị đo lường khác theo quy định của pháp luật.

5.4. Dầu bán cho tàu biển được xác định như sau:

a) Dầu bơm trực tiếp từ kho xuống tàu biển được xác định bằng đồng hồ đo của kho.

b) Dầu bơm từ kho xuống phương tiện vận chuyển được xác định bằng đồng hồ đo của kho chứa trên đất liền. Dầu bơm từ phương tiện vận chuyển sang tàu biển được xác định bằng một trong các phương pháp: giám định, Barem, đồng hồ đo tùy theo điều kiện cụ thể của từng tàu biển, phù hợp với thông lệ được áp dụng đối với mặt hàng này.

5.5. Nhiên liệu bay bán cho tàu bay: căn cứ vào đồng hồ đo lưu lượng của phương tiện tra nạp chuyên dụng cho tàu bay.

5.6. Đồng hồ đo xác định khối lượng: đồng hồ đo phải được cơ quan tiêu chuẩn đo lường Nhà nước kiểm tra, xác nhận, niêm phong và được kiểm tra định kỳ theo quy định của pháp luật (trừ đồng hồ đo của tàu bay, tàu biển).

6. Xác định chủng loại xăng, dầu xuất khẩu, tái xuất:

6.1. Các trường hợp không phải giám định:

a) Tái xuất xăng, dầu từ bồn, bể chứa riêng vẫn còn niêm phong hải quan khi nhập khẩu.

b) Tái xuất nhiên liệu bay cho tàu bay với điều kiện thương nhân có văn bản xác nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

c) Tái xuất dầu diesel, dầu mazut: Hải quan kiểm tra thực tế hoặc kiểm tra bằng phương tiện kỹ thuật (tỷ trọng kế, thuốc thử hoặc dụng cụ kiểm tra khác theo quy định của pháp luật để xác định được mặt hàng) hoặc phiếu hóa nghiệm của thương nhân để xác định mặt hàng.

6.2. Các trường hợp phải giám định:

a) Các trường hợp tái xuất khác ngoài các quy định tại điểm 6.1, khoản 6 Điều này.

b) Trường hợp xuất khẩu, tái xuất qua đường bộ, nếu tại địa phương không có thương nhân giám định độc lập thì chấp nhận Phiếu hóa nghiệm của thương nhân, thương nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung Phiếu hóa nghiệm.

Xăng, dầu được lấy ra từ cùng 01 bồn, bể dưới sự giám sát của Hải quan thì việc giám định xác định chủng loại này là xác định cho cả lô hàng xuất khẩu, tái xuất, không yêu cầu phải xác định riêng lẻ cho từng phương tiện vận chuyển.

7. Đối với các trường hợp có Chứng thư giám định của thương nhân giám định có chức năng giám định về khối lượng và chủng loại xăng, dầu quy định tại các khoản 5, 6 Điều 3, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì Chi cục trưởng Hải quan quyết định kiểm tra thực tế xăng, dầu.

8. Xác nhận thực xuất đối với xăng, dầu xuất khẩu, tái xuất:

Khi xăng, dầu đã thực xuất qua cửa khẩu, thương nhân phải nộp 01 bản sao từ bản chính (có chữ coppy) hoặc bản sao vận tải đơn (B/L) từ bản gốc (có chữ origin) hoặc giấy tờ có giá trị tương đương vận tải đơn, 01 bản chính hóa đơn thương mại cho Hải quan để xác nhận thực xuất vào tờ khai xuất khẩu. Xác nhận thực xuất phải ghi rõ tên, số hiệu phương tiện vận chuyển; số, ngày vận tải đơn; ngày, giờ thực xuất qua cửa khẩu; tình trạng niêm phong. Thẩm quyền xác nhận thực xuất thực hiện theo quy định hiện hành.

9. Chi cục Hải quan làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất, ngay sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan cho phương tiện chuyên chở xăng, dầu xuất khẩu, tái xuất, phải thông báo bằng văn bản hoặc bằng hệ thống máy tính theo quy định của ngành Hải quan cho Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất biết các nội dung: ngày, giờ phương tiện xuất phát; tên, đặc điểm của phương tiện; tuyến đường phương tiện hoạt động; tên, lượng, chủng loại xăng, dầu để cùng phối hợp theo dõi, quản lý.

II. THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI NHẬP KHẨU, TẠM NHẬP XĂNG, DẦU