Điều 4. Xếp lương trong thời gian tạm tuyển
Công dân được tuyển dụng vào Công an nhân dân nếu phải qua thời gian tạm tuyển thì trong thời gian tạm tuyển, được xếp lương như sau:
1. Nếu trước khi tạm tuyển đang hưởng lương (phù hợp với chuyên ngành đào tạo và chức danh công việc đảm nhiệm) theo các thang, bảng lương ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết gọn là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP); Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước (sau đây viết gọn là Nghị định số 205/2004/NĐ-CP) thì thời gian tạm tuyển được giữ nguyên mức lương đã được xếp. Thời gian này được tính là thời gian công tác để xem xét xếp lương, phong cấp bậc hàm khi được tuyển dụng theo quy định tại Chương II Thông tư này;
2. Nếu trước khi tạm tuyển đang hưởng lương theo mức tiền tuyệt đối hoặc không xếp lương theo các thang, bảng lương do Nhà nước quy định thì căn cứ thời gian công tác, chuyên ngành đào tạo và chức danh công việc đảm nhiệm để xếp vào bậc lương tương ứng trong các bảng lương ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Hết thời gian tạm tuyển, sẽ căn cứ bậc lương được xếp khi tạm tuyển và chức danh công việc được bố trí để xem xét xếp lương, phong cấp bậc hàm theo quy định tại Chương II Thông tư này;
3. Nếu là học viên tốt nghiệp các học viện, trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, sơ cấp nghề được tuyển dụng thì thời gian tạm tuyển được xếp mức lương khởi điểm của nhóm, ngạch tương ứng với trình độ đào tạo quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức hành chính sự nghiệp.