Điều 18. Xác định cống đầu kênh
1. Cống đầu kênh được quy định theo diện tích tưới, tiêu thiết kế đối với từng vùng như sau:
a) Miền núi cả nước: nhỏ hơn hoặc bằng 50ha.
b) Đồng bằng sông Hồng: nhỏ hơn hoặc bằng 250 ha.
c) Miền Trung du, duyên hải miền Trung, Tây nguyên và Đông Nam bộ: nhỏ hơn hoặc bằng 200 ha.
d) Đồng bằng sông Cửu Long: nhỏ hơn hoặc bằng 400 ha.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cụ thể quy mô cống đầu kênh và mức trần phí dịch vụ thuỷ nông nội đồng, để chi trả công tác quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình thuộc phạm vi của Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý, nhằm nâng cao ý thức của người dân trong việc tiết kiệm nước, bảo vệ công trình thuỷ lợi.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Tài chính của tỉnh điều tra, tính toán mức chi phí thực tế của Tổ chức hợp tác dùng nước, trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định mức trần phí dịch vụ thuỷ nông nội đồng của toàn tỉnh.
3. Tổ chức hợp tác dùng nước, hộ gia đình, cá nhân quản lý công trình, kênh mương có quy mô diện tích phục vụ lớn hơn quy mô cống đầu kênh theo quy định cụ thể của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, được cấp một phần kinh phí từ nguồn cấp bù thuỷ lợi phí của Nhà nước. Tỷ lệ và mức trích cụ thể theo thoả thuận giữa công ty quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi đầu mối với Tổ chức hợp tác dùng nước trên cơ sở khối lượng, nội dung công việc thực hiện và diện tích thực tế vượt mức quy định.