Điều 11. Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật
1. Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản thực hiện theo quy định tại các Phụ lục I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX của Thông tư này và sử dụng bộ mã các ký tự chữ Việt Unicode, TCVN 6909:2001.
2. Văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành theo mẫu quy định tại các Phụ lục III, IV, V, VI của Thông tư này.
3. Thông tư thực hiện theo mẫu quy định tại các Phụ lục VII, VIII, IX của Thông tư này, được đánh số thứ tự theo từng năm và ghi ký hiệu riêng cho từng loại văn bản theo quy định sau đây:
a) Thông tư: Số: /năm ban hành/TT-BGTVT;
b) Thông tư liên tịch: Số: /năm ban hành/TTLT/BGTVT-B….
4. Kỹ thuật viện dẫn văn bản có liên quan phải thực hiện như sau:
a) Ghi đầy đủ tên văn bản, số, ký hiệu văn bản; tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản. Trong trường hợp viện dẫn phần, chương, mục của một văn bản quy phạm pháp luật thì phải xác định cụ thể phần, chương, mục của văn bản đó.
b) Trong trường hợp viện dẫn đến điều, khoản, điểm thì không phải xác định rõ đơn vị bố cục phần, chương, mục có chứa điều, khoản, điểm đó.
c) Trong trường hợp viện dẫn đến phần, chương, mục, điều, khoản, điểm của một văn bản quy phạm pháp luật thì phải viện dẫn theo thứ tự từ nhỏ đến lớn và tên của văn bản; nếu viện dẫn từ khoản, điểm này đến khoản, điểm khác trong cùng một điều hoặc từ mục, điều này đến mục, điều khác trong cùng một chương của cùng một văn bản thì không phải xác định tên của văn bản nhưng phải viện dẫn cụ thể.
5. Trong văn bản quy phạm pháp luật phải ghi rõ ngày, tháng, năm có hiệu lực của văn bản nhưng phải bảo đảm không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày ký ban hành. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp thì có thể có hiệu lực ngay kể từ ngày ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của Bộ và gửi đăng Công báo chậm nhất sau 02 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành.