Điều 18. Đốt, xả khí và đốt, hủy dầu
1. Đốt, xả khí:
Người điều hành chỉ được đốt xả khí theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Dầu khí, bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Lưu lượng hoặc khối lượng khí đốt, xả không lớn hơn lưu lượng hoặc khối lượng cần thiết phải xả để thông và làm sạch giếng;
b) Việc đốt khí phục vụ quá trình thử vỉa hoặc sau khi hoàn thiện, sửa chữa hoặc xử lý giếng nếu dự kiến kéo dài quá 48 giờ phải được người điều hành thống nhất với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam;
c) Đốt theo chu kỳ khí dư từ hệ thống công nghệ xử lý không đủ điều kiện thu gom và việc đốt không gây ra mối nguy hiểm về an toàn; đốt trong tình trạng khẩn cấp như máy nén khí hoặc các thiết bị khác bị hư hỏng; đốt khi bảo dưỡng định kỳ, kiểm tra và thử nghiệm;
d) Trong trường hợp khẩn cấp, người điều hành có thể xả khí tạm thời (không đốt) trong vòng 24 giờ thông qua van an toàn. Trường hợp xả khí vượt quá 24 giờ phải được người điều hành thống nhất với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam.
2. Đốt, hủy dầu:
a) Người điều hành thực hiện việc đốt hay hủy dầu trong tình trạng khẩn cấp hoặc xét thấy việc đốt hay hủy dầu là cần thiết khi tiến hành công tác hoàn thiện hoặc sửa chữa giếng hoặc trong trường hợp xử lý kích thích tăng dòng với điều kiện khối lượng dầu bị đốt hay hủy ít hơn 01 m3/h và phải đảm bảo an toàn môi trường khi thực hiện việc đốt hay hủy dầu theo quy định của pháp luật;
b) Người điều hành phải thông báo ngay bằng văn bản cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam khi đốt hoặc hủy dầu và phải có kế hoạch sẵn sàng để đối phó với tình trạng khẩn cấp;
c) Trong quá trình thử giếng, người điều hành chỉ được đốt hoặc hủy dầu theo khối lượng đã được Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam thống nhất,
3. Sau khi chấm dứt việc đốt, xả khí và hủy dầu theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người điều hành gửi báo cáo lượng đốt, xả khí và hủy dầu thực tế cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam.