Điều 3. Nguyên tắc tính toán và đăng ký giá bán xăng dầu:
Giá vốn bán lẻ cơ sở được tính bằng: [giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu thụ đặc biệt] nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Thuế VAT cộng (+) Phí xăng dầu cộng (+) mức trích Quỹ bình ổn giá bắt buộc cộng (+) các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định hiện hành của pháp luật cộng (+) Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cộng (+) Lợi nhuận định mức.
Trong đó:
- Giá vốn bán lẻ cơ sở được tính bình quân cho một đơn vị hàng hóa phù hợp với thời gian dự trữ lưu thông theo quy định của pháp luật.
- Giá CIF là giá bán xăng dầu thế giới theo công bố của tờ Plaltt’s Singapore được tính bình quân cho một đơn vị hàng hóa phù hợp với thời gian dự trữ lưu thông theo quy định của pháp luật cộng (+) chi phí phát sinh để đưa xăng dầu về đến cảng Việt Nam (chi phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển...).
- Tỷ giá ngoại tệ là tỷ giá bán bình quân thực tế của ngân hàng thương mại đến thời điểm xác định giá, nơi mà các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu giao dịch thường xuyên phục vụ việc nhập khẩu xăng dầu.
- Chi phí kinh doanh xăng dầu được tính tối đa 600 đồng/lít đối với xăng, dầu hỏa, diedel; tối đa 400 đồng/kg đối với madut và sẽ được điều chỉnh cụ thể cho phù hợp với từng thời kỳ.
- Lợi nhuận định mức được tính tối đa tương ứng giá vốn bán lẻ cơ sở 300 đồng/lít(kg). Lợi nhuận thu được thực tế của doanh nghiệp tùy thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối thực hiện chế độ đăng ký giá định hướng bán ra với Tổ giám sát liên Bộ Tài chính - Công Thương về giá xăng dầu, chịu sự giám sát việc thực hiện của Tổ giám sát liên Bộ và quy định về cơ chế quản lý, điều hành giá bán xăng dầu của Bộ Tài chính.