Điều 22. Phản biện độc lập
1. Phản biện độc lập là quá trình phân tích, đánh giá độc lập, khách quan về chất lượng chuyên môn, tính nguyên bản, liêm chính học thuật và những đóng góp mới của luận án trước khi luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án.
2. Cơ sở đào tạo có trách nhiệm hoàn thành quy trình phản biện độc lập trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ thời điểm nghiên cứu sinh nộp dự thảo luận án đã được đơn vị chuyên môn thông qua; trường hợp phải thực hiện lấy ý kiến phản biện độc lập lần thứ hai theo quy định tại khoản 4 Điều này thì thời gian được kéo dài thêm tối đa 03 tháng.
3. Luận án của nghiên cứu sinh được gửi lấy ý kiến của 03 phản biện độc lập, trong đó có ít nhất 02 nhà khoa học hoặc chuyên gia trong nước hoặc nước ngoài không thuộc cơ sở đào tạo; người phản biện độc lập phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có chuyên môn phù hợp với đề tài luận án và đáp ứng tiêu chuẩn của người hướng dẫn độc lập quy định tại Điều 17 của Quy chế này;
b) Thường xuyên tham gia hoạt động giảng dạy sau đại học và có năng lực nghiên cứu khoa học;
c) Không có xung đột lợi ích với nghiên cứu sinh hoặc người hướng dẫn;
d) Không có quan hệ gia đình (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con, anh, chị, em ruột) với nghiên cứu sinh;
đ) Không tham gia hướng dẫn hoặc đồng thực hiện nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án;
e) Không vi phạm liêm chính học thuật, liêm chính khoa học;
g) Chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá độc lập.
4. Ý kiến phản biện độc lập phải kết luận rõ đồng ý hoặc không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án; việc xác định kết quả phản biện độc lập được thực hiện như sau:
a) Luận án được xác định đạt yêu cầu khi có ít nhất 02 ý kiến đồng ý của người phản biện độc lập;
b) Trường hợp có một (01) ý kiến không đồng ý, cơ sở đào tạo gửi luận án để lấy thêm ý kiến của một (01) người phản biện độc lập khác làm căn cứ xem xét, quyết định;
c) Trường hợp có từ 02 ý kiến phản biện độc lập không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án, cơ sở đào tạo yêu cầu nghiên cứu sinh và người hướng dẫn chỉnh sửa, bổ sung luận án và thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ hai. Không thực hiện phản biện độc lập quá hai lần đối với cùng một luận án.
5. Cơ sở đào tạo quyết định và chịu trách nhiệm đối với trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả công bố khoa học liên quan đến nội dung luận án vượt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được miễn thực hiện quy trình phản biện độc lập quy định tại Điều này khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Các công bố khoa học bao quát và liên quan trực tiếp đến các nội dung của luận án;
b) Số lượng công bố khoa học trên tạp chí khoa học phải nhiều hơn ít nhất 02 (hai) bài báo thuộc danh mục WoS hoặc Scopus và được xếp loại Q1 hoặc Q2 so với số lượng yêu cầu của chuẩn đầu ra chương trình đào tạo;
c) Nghiên cứu sinh là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các bài báo quy định tại điểm a và b khoản này;
d) Nghiên cứu sinh cam kết và chịu trách nhiệm về việc tuân thủ các quy định về liêm chính khoa học, liêm chính học thuật đối với các công bố khoa học liên quan đến luận án.
6. Việc miễn phản biện độc lập phải được Hội đồng khoa học và đào tạo hoặc hội đồng chuyên môn có thẩm quyền của cơ sở đào tạo xem xét, quyết định trên cơ sở các tiêu chí quy định tại khoản này; căn cứ miễn phản biện độc lập phải được công khai trong hồ sơ đào tạo và cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm giải trình và chịu sự kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm theo quy định của pháp luật.
7. Cơ sở đào tạo quy định chi tiết về:
a) Quy trình lựa chọn, gửi lấy ý kiến, tiếp nhận, xử lý và lưu trữ ý kiến phản biện độc lập;
b) Việc bảo mật danh tính và thông tin cá nhân của người phản biện độc lập trong thời gian thực hiện phản biện; việc thay thế, bổ sung phản biện độc lập;
c) Quy trình, thủ tục, hồ sơ, thẩm quyền thẩm định, xác nhận và trách nhiệm giải trình đối với trường hợp miễn phản biện độc lập quy định tại khoản 5 Điều này;
d) Trách nhiệm của nghiên cứu sinh, người hướng dẫn, người phản biện độc lập và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình phản biện độc lập;
đ) Việc xác định các trường hợp xung đột lợi ích, kiểm soát đạo văn, quản lý, lưu trữ và công khai luận án, công bố khoa học, cơ sở dữ liệu luận án phục vụ công tác quản lý và hậu kiểm.