Điều 7. Bảo đảm tính sẵn sàng và an toàn hệ thống mạng Ngân hàng Nhà nước
1. Mạng Ngân hàng Nhà nước phải được trang bị hệ thống kỹ thuật cho việc quản lý, giám sát mạng nhằm phát hiện, ngăn chặn các truy cập trái phép và bảo đảm an toàn dữ liệu trao đổi trên môi trường mạng.
2. Kết nối mạng giữa các tổ chức bên ngoài với mạng Ngân hàng Nhà nước phải được kiểm soát bởi các hệ thống an ninh mạng và tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định của Ngân hàng Nhà nước về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng.
3. Kết nối mạng giữa Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị cấp trung ương, hội sở chính của các tổ chức bên ngoài phải được triển khai thông qua tối thiểu 02 (hai) đường truyền độc lập về hạ tầng cáp truyền dẫn và hướng tuyến.
4. Dữ liệu trao đổi giữa mạng Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức bên ngoài phải được mã hóa trong quá trình truyền dẫn bằng các giải pháp, giao thức mã hóa bảo mật phù hợp, bảo đảm bí mật, toàn vẹn và xác thực của dữ liệu.
5. Các thiết bị đầu cuối kết nối, sử dụng tài nguyên và dịch vụ mạng Ngân hàng Nhà nước phải:
a) Được xác thực bởi hệ thống bảo mật mạng của Ngân hàng Nhà nước trước khi được phép truy cập;
b) Cài đặt và duy trì phần mềm phòng, chống mã độc có chức năng tự động cập nhật và dò quét định kỳ;
c) Cập nhật các bản vá lỗ hổng bảo mật của hệ điều hành và phần mềm ứng dụng tối thiểu 03 (ba) tháng một lần theo hướng dẫn của Cục Công nghệ thông tin.
6. Trang thiết bị mạng tại Trung tâm dữ liệu phải được thiết lập, duy trì hoạt động theo cơ chế sẵn sàng cao (High Availability - HA).