vanban.org

Điều 11. Kiểm tra đối với hàng hóa có yếu tố nguy cơ — Thông tư 46/2014/TT-BYT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/11/2018 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 25/2018/TT-BYT · 28/09/2018
Bộ Y tế Ban hành 05/12/2014 Hiệu lực 20/01/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 46/2014/TT-BYT › Chương I › Mục 3 › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Kiểm tra đối với hàng hóa có yếu tố nguy cơ

1. Đối với hàng hóa thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 9 và Khoản 2 Điều 10 Thông tư này, kiểm dịch viên y tế hướng dẫn đưa hàng hóa vào khu vực kiểm tra và thực hiện kiểm tra các nội dung sau:

a) Kiểm tra giấy khai báo y tế hàng hóa trừ trường hợp hàng hóa đã được kiểm tra giấy tờ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 10 Thông tư này;

b) Kiểm tra nội dung khai báo với thực tế hàng hóa;

c) Kiểm tra tình trạng vệ sinh chung;

d) Kiểm tra trung gian truyền bệnh truyền nhiễm hoặc yếu tố nguy cơ sức khỏe;

đ) Kiểm tra quy định về dụng cụ, bao gói chứa đựng, ghi trên nhãn và điều kiện vận chuyển đối với hàng hóa;

e) Đánh giá hiệu quả các biện pháp xử lý y tế đã áp dụng;

g) Lấy mẫu xét nghiệm trong các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 13 Nghị định 103/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới.

2. Kiểm dịch viên y tế chuyển sang xử lý y tế theo quy định tại Điều 12 Thông tư này đối với hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Hàng hóa mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

b) Hàng hóa bị ô nhiễm bởi yếu tố nguy cơ sức khỏe.

3. Hàng hóa không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này, kiểm dịch viên y tế cấp giấy chứng nhận đã kiểm tra y tế và kết thúc quy trình kiểm dịch.