Điều 8. Quản lý chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu
1. Hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu trước khi đưa ra thị trường phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Điều 34 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15, Điều 68 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026 và quy định của pháp luật về quản lý vật liệu xây dựng.
2. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu:
a) Hoạt động kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu được thực hiện theo quy định tại Điều 82 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026;
b) Cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu thuộc nhóm rủi ro cao là Sở Xây dựng (say đây viết tắt là Cơ quan kiểm tra) một trong các địa phương: Nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (hoặc nơi đặt văn phòng đại diện, chi nhánh, nhà máy sản xuất); nơi có cửa khẩu được doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa; nơi doanh nghiệp làm thủ tục hải quan đối với lô hàng hóa.
c) Trình tự, thủ tục, hồ sơ kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu thuộc nhóm rủi ro cao thực hiện theo quy định tại Điều 83 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026.
3. Việc thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Áp dụng biện pháp miễn, giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu thuộc nhóm rủi ro cao; không phải thực hiện lại việc công bố hợp quy đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu thuộc nhóm rủi ro trung bình được thực hiện theo quy định tại Điều 86 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026.
5. Xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu thuộc nhóm rủi ro cao thực hiện theo quy định tại Điều 85 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026.